Video hoạt động của Trường THCS Nguyễn Du - Bắc Trà My
Truyện Lịch Sử Cho Thiếu Nhi - Hà Ân

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 19h:30' 17-11-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 19h:30' 17-11-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Truyện Lịch Sử Thiếu Nhi
Tác giả: Hà Ân
Ebook: HockeyQ
TVE4U
TRUYỆN LỊCH SỬ CHO THIẾU NHI
TRUYỆN LỊCH SỬ
DÀNH CHO THIẾU NHI
Tác giả: Hà Ân
BẾN BỜ THIÊN MẠC
Chương 1
Khi trời tang tảng sáng, Trần Bình Trọng dẫn đạo quân của
mình về tới bờ Thiên Mạc. Mưa xuân vẫn lất phất bay. Sau màn
mưa, bãi lầy Màn Trò càng tăng thêm vẻ bí ẩn. Những bụi lau đuôi
cờ mới đâm bông kéo ngút ngàn. Tiếng lá xát vào nhau tưởng như
cạnh sắc răng cưa của lá không hề vì ngấm nước mưa mà nhụt đi
chút nào. Gió đông mỗi lúc mỗi mạnh dần thêm, đập điên đảo những
bông lau còn cúp. Gió cứ tràn đi; tiết trời càng trở lạnh khiến Trần
Bình Trọng rùng mình. Ông gò cương ngựa chiến, nheo mắt nhìn
sâu vào bãi lầy, cố gắng tìm ra con đường độc đạo xuyên qua Màn
Trò dẫn xuống mé nam vùng Thiên Mạc.
- Mưa thế này, Màn Trò càng nguy hiểm lắm đây - Trần Bình
Trọng lẩm bẩm nói, mắt chăm chú nhìn đôi diều hâu lượn tròn trên
bầu trời của bãi lầy.
Khúc sông Hồng chảy qua tỉnh Hưng Yên. Nay là Mạn Trù
(Hưng Yên) Trần Bình Trọng đã từng vượt Màn Trò một lần khi ông
mới được triều đình phái về trấn thủ lộ Khoái. Lần ấy cách đây đã
sáu năm, mà sáu năm vừa qua, biết bao nhiêu việc nước, việc quân
đã choán hết tâm trí ông. Bây giờ đứng trước Màn Trò, ông chỉ còn
nhớ rằng vào đấy sẽ gặp những chằm đất lầy ngập lút đầu người,
những ổ rắn độc đủ các loại và những vũng bùn nước lúc nhúc cá
sấu. Màn Trò chỉ còn lưu lại trong trí nhớ của ông những hình ảnh
như vậy trong lúc chính ông đang cần dẫn đạo quân này vượt qua
bãi lầy. Đã vậy, đạo quân của ông lại đang mệt mỏi, đang thiếu
lương ăn, trải qua ba ngày ròng rã vừa đánh vừa rút lui từ Vạn Kiếp
về. Thật khó khăn!... Trần Bình Trọng quay lại ra lệnh cho viên chấp
hiệu đi sau ông. Một ngọn cờ xanh vẫy lên, đoàn người ngựa dừng
cả lại. Những người lính vơ quàng nắm lá lau khô, chụm lửa. Họ
vừa sưởi cho đỡ cóng vừa dốc nốt những hạt gạo cuối cùng nấu ít
cháo loãng. Từng làn khói xám đặc bốc lên, tỏa lẫn vào màn mưa
đang vén rất nhanh. Trong chốc lát, vầng đông chiếu lộng lẫy cả một
vùng Thiên Mạc mênh mang...
- Ai biết vùng này lên ngay ta hỏi! - Trần Bình Trọng giật giọng
ra lệnh. Những người lính đứng gần ông vội vã truyền đi:
- Ai biết vùng này lên ngay hầu chủ tướng!
- ... lên ngay hầu chủ tướng!
- ... chủ tướng!
Tiếng lệnh truyền lan mãi xuống dưới những hàng quân cuối
cùng. Tiếng lệnh truyền hòa lẫn vào tiếng nói cười râm ran của các
chiến sĩ đang xúm xít quanh những đống lửa sưởi ấm. Trần Bình
Trọng ngồi xuống một gốc cây đổ ven đường. Ông bỗng cảm thấy
trong người bứt rứt, bồn chồn. Và cái bứt rứt ấy cứ lớn mãi lên trong
lòng ông. Ông cố trấn tĩnh lòng mình. Ông cố suy nghĩ để quên đi
cơn giận và cảm giác đói mệt đang muốn kéo ông nằm xuống mặt
cỏ ngủ vùi.
Trần Bình Trọng nghĩ về thế nước. Ông chỉ là viên tướng chỉ
huy một đạo quân vài ngàn người. Những cuộc họp quan trọng của
triều đình bàn việc lớn, ông không được dự. Nhưng ông rất tin
tưởng ở tài cầm quân của Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn. Ông
còn nhớ rất kỹ những điều Tiết chế đã dặn dò tướng sĩ trong các
buổi học binh thư tại Giảng vũ đường. Ông còn nhớ dáng đứng oai
phong của Tiết chế trong buổi duyệt toàn bộ quân đội tại bến Đông
Bộ Đầu. Ông còn nhớ khi ông đang giữ ải Khả Lá, thì bản Hịch
tướng sĩ của Tiết chế truyền đến. Bây giờ đây, bên tai ông, tưởng
chừng lời hịch sang sảng vẫn còn vang động: “...Ta đây ngày quên
ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa...”
Trần Bình Trọng phà mạnh một hơi thở dài... Ông cũng đã bao
nhiêu đêm mất ngủ, ông cũng đã ruột đau như cắt bao ngày, nhớ
những khi “...sứ giặc đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều
mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ!” Lũ giặc
nào chẳng lòng tham không đáy, bạc vàng nào đối với chúng cho
vừa, cũng như thịt dê nào đủ cho bầy hổ đói... Trần Bình Trọng lại
phà một hơi thở mạnh. Lòng căm thù giặc của Tiết chế đã khiến cho
tướng sĩ càng vững lòng tin ở triều đình. Riêng ông, Trần Bình
Trọng, càng mài sắc ý chí diệt lũ giặc nước. Vừa qua, quân các lộ
kéo lên Vạn Kiếp chật đất, chật sông. Hai mươi vạn chiến sĩ, giáo
mác lập lòe, cờ phướn phấp phới. Ngựa hí, voi gầm, trời long đất lở.
Những tưởng phen này được đánh cho lũ giặc nước tan không còn
mảnh giáp... Lúc bấy giờ, Trần Bình Trọng đóng quân trên bến Bình
Than. Đứng trên đài nhìn xa chót vót trên ngọn đa cổ thụ. Trần Bình
Trọng thấy rõ quân sĩ đôi bên hàng ngày di chuyển để bày thành thế
trận trong vùng Vạn Kiếp đồi núi trập trùng. Trước mặt trận địa của
ông là một mỏm đồi cao có một toán quân giặc đóng chiếm. Chúng
kéo cờ thám mã, hiệu cờ của bọn lính trinh sát. Trần Bình Trọng
hiểu rõ sự nguy hiểm của loại lính giặc này. Ông đã liền mấy đêm
điều khiển các chiến sĩ của ông bám sát, tìm hiểu cách đóng quân
của chúng. Ông đã lập xong kế hoạch, một kế hoạch đánh chắc
thắng. Nhưng vừa lúc đạo quân chính của giặc tràn tới thì thình
lình... Tiết chế hạ lệnh rút lui!... Nghĩ đến đấy, Trần Bình Trọng đâm
choáng váng. Ông nắm chặt tay, đấm mạnh xuống đùi mình một cái.
Làm tướng mà phải rút lui là một điều rất đau lòng!...
Ông cảm thấy bực bội và càng đắm sâu vào những suy nghĩ
miên man... Ông là một vị tướng. Ông hiểu rằng cầm quân có lúc
tiến nhưng cũng có lúc lùi nếu cần thiết. Lùi để làm cho địch Sinh
kiêu căng, lùi để nhử địch vào sâu trong thế trận bày sẵn, lùi để
tránh thế mạnh ban đầu của địch. Ông hiểu như vậy, nhưng ông vẫn
đau lòng và từng lúc, tim ông đập rộn lên, ruột gan như xát muối...
Từ giữa đám quân đông, một cậu bé chen tới trước mặt ông.
Dáng người còm nhỏ của chú ta chìm ngập giữa các đợt sóng của
dải cờ và ngù giáo. Cậu bé quỳ một gối chào Trần Bình Trọng và
nói:
- Thưa chủ tướng, tôi là Hoàng Đỗ xin lại hầu.
Trần Bình Trọng vẫn mải suy nghĩ. Hai mắt ông mở trừng trừng
mà ông vẫn không nhận thấy có người trước mặt. Mãi sau, ông mới
sực tỉnh. Ông chăm chú ngắm cậu bé và cảm thấy gương mặt này
quen quen. Trên vầng trán dô của chú ta có thích chàm ba chữ
“Quan trung khách”. Ba chữ thích chàm đó khiến Trần Bình
Trọng nhớ ra đây là một chú bé đã từng bị ông phạt giam vì tội
dám cưỡng lại lời ông. Trần Bình Trọng cau mày hỏi:
- Ngươi đến hầu ta có việc gì?
- Thưa chủ tướng, tôi cũng không biết. Vừa rồi có lệnh đòi
người lên hầu cho nên tôi phải lên.
- À! Ngươi biết thế đất vùng này sao?
- Dạ biết!
Trần Bình Trọng nhìn từ đầu đến chân cậu bé. Chú ta mặc một
manh áo chiến rộng quá. Vải áo bạc màu xếp lùng nhùng quanh cái
thắt lưng. Ngang sườn, chú ta giắt một cái roi ngựa bằng gỗ liễu.
Trần Bình Trọng nhớ dần ra. Hoàng Đỗ là một chú lính chăn ngựa
trong đạo quân của ông. Chú ta thường lấy trộm ngựa chiến đem ra
bãi sông tập quần. Viên chỉ huy đô đã nhiều lần đánh đòn mà chú ta
cũng vẫn không chừa.
- Ngươi biết rõ thế đất này thật à?-Trần Bình Trọng hỏi gặng.
- Thưa chủ tướng, tôi vốn là người Thiên Mạc.
Trần Bình Trọng chợt nhìn thấy cổ chú lính có đeo một sợi dây
thao màu lục. Ông kinh ngạc giơ tay gỡ sợi dây thao. Sợi dây thao
có đeo một đồng tiền bạc giấu kín trong ngực chú bé.
- Ngươi lấy cái này ở đâu thế?
Chú bé tái mặt. Chú nhìn ông tướng của mình một lúc rồi mới
đáp:
- Đồng tiền này là đồng tiền tôi được thưởng.
- Hả? Được thưởng à?... Ở đâu thế?
- Thưa, sau trận Khả Lá cuối mùa đông năm ngoái.
Thốt nhiên Trần Bình Trọng nhớ lại như in trận phá vây ải Khả
Lá. Đó là một trận đẫm máu không cân xứng giữa hai lực lượng. Lúc
bấy giờ đứng giữa vòng vây, Trần Bình Trọng nhìn bốn bề thấy quân
giặc trùng trùng điệp điệp... Ông đã cùng những người lính của mình
dốc sức đánh một mũi, mở đường máu thoát khỏi vòng vây. Sau
trận này, Trần Bình Trọng thưởng tiền bạc cho tất cả những người
lính đã cùng phá vây với ông... Ờ... Đúng, chú bé này cũng đã được
chính tay ông thưởng cho đồng tiền. Nét mặt ông dịu hẳn xuống.
Ông hỏi tiếp cậu bé chăn ngựa, giọng đã nhẹ nhàng hơn:
- Ngươi bị bán làm nô từ bao giờ thế?
Cậu bé chăn ngựa im lặng một lúc lâu, dường như không
muốn nhắc tới chuyện cũ đau lòng. Mãi sau, giọng nói khó nhọc của
chú ta mới thốt lên được:
- Thưa, từ năm tôi mười một tuổi. Cha tôi mắc nợ người ta
không trả được. Chủ nợ bắt tôi đem bán làm nô. Người ta thích lên
trán tôi ba chữ này.
Chú bé sờ tay lên mấy chữ “Quan trung khách”, mấy chữ đánh
dấu một con người mất quyền tự do, có thể bị chủ nô bán đi mua lại
như mua bán một con vật vậy.
Hoàng Đỗ cúi mặt xuống. Chú bé thấy mình chẳng có điều gì
đáng hổ thẹn cả. Nhưng chú cúi mặt vì không muốn để Trần Bình
Trọng nhận thấy vẻ mặt xúc động của mình. Trần Bình Trọng cũng
im lặng một lát. Ông hối hận đã hỏi chạm vào niềm riêng của cậu bé
chăn ngựa đã từng phá vây với ông. Trong đạo quân của ông có khá
nhiều nô tì người lộ Khoái. Trải qua hai tháng chiến đấu trên biên
thùy phía bắc, ông đã hiểu họ nhiều. Ông hiểu về lòng yêu nước của
họ. Ông hiểu về sự khát khao thoát kiếp nô tì của họ. Ông càng dịu
giọng:
- Ta muốn cho quân nghỉ một buổi trước khi rút về phía nam lộ
Khoái. Ngươi tìm cho ta một chỗ đóng quân và tìm cho ta một người
dẫn đường vượt bãi lầy Màn Trò.
Cậu bé chăn ngựa ngẫm nghĩ. Chẳng hiểu nếu mình thẳng
thắn nói ra thì người ta có tin mình không? Màn Trò là một vùng bí
ẩn, rộng lớn, chứa đầy cạm bẫy.
Nhưng chú đã được cha chú dẫn đi khắp mọi xó xỉnh của bãi
lầy. Chú có thể giữa ban đêm cũng tìm ra đường vượt Màn Trò.
Nhưng nói ra điều ấy liệu có người tin được không? Chú mới chỉ là
đứa bé mười lăm tuổi đầu. Cuộc đời cơ cực của người nô tì lại làm
cho chú héo hon cằn cỗi như trái ổi khô thế này. Ai dám tin lời một
đứa bé còm nhom chỉ đứng đến ngang ngực mình!... Nhưng rồi chú
lại nghĩ tới lời cha dặn trong buổi chia tay năm xưa. Cha chú đã nắm
chặt đôi vai nhỏ của chú và dặn: “Dù mày có bị người ta bắt làm nô
thì mày cũng đừng quên rằng mày là con người!” Là con người! Đã
vậy thì cứ nói cho đúng với lòng mình. Hoàng Đỗ trả lời:
- Chủ tướng nên đem quân về đóng ở làng Xuân Đình. Làng
này cách cửa Hàm Tử chẳng bao xa, lại ở kề bên lối rẽ vào bãi lầy
Màn Trò. Như thế, nếu muốn tiến hoặc lùi ngả nào cũng đều tiện cả.
Trần Bình Trọng vui mừng hỏi:
- Đường về Xuân Đình có dễ đi không?
- Thưa, chỉ mươi dặm đường cát sa bồi êm chân lắm. Nhưng
mà...
- Sao?
- Nhưng mà vượt qua Màn Trò mùa này thì khó khăn lắm.
Trần Bình Trọng cau mày kinh ngạc. Ông hỏi:
- Ta tưởng mùa này mưa xuân nhỏ, nước cạn, vượt Màn Trò
chắc cũng dễ dàng chứ?
Cậu bé chăn ngựa nghiêm trang đáp:
- Màn Trò là một vùng trũng rất rộng, mỗi bề ngang dọc hàng
trăm dặm. Mùa nước, lũ sông Thiên Mạc tràn vào, Màn Trò thành
một biển nhỏ, nước phù sa đỏ ngầu.
Lúc ấy nhìn vào chỉ thấy mênh mông chẳng biết đâu là bờ bụi.
Nhưng chính vào vụ nước vượt Màn Trò không khó khăn, miễn là có
đủ thuyền và người chèo lái.
Còn về mùa này, Màn Trò đói nước. Đâu đâu cũng là chằm lầy,
ổ rắn. Cá sấu cũng làm hàng trăm tổ để đẻ trứng. Vượt bằng thuyền
thì dễ mắc cạn mà vượt bộ thì cần có người thuộc rất kỹ đường qua
bãi lầy.
Trần Bình Trọng sầm mặt. Ông nghĩ thầm, nếu biết vậy thì ông
dẫn quân về mặt này làm gì! Chẳng thà vòng qua sông Kinh Thầy về
đông nam lộ Khoái còn hơn.
Nhưng bây giờ quân đã dẫn về đây rồi. Tốt nhất là tìm cách
vượt Màn Trò thôi. Trần Bình Trọng nhìn chỏm khăn quấn rối trên
đầu cậu bé chăn ngựa. Ông đắn đo trước khi hỏi:
- Ngươi có thể tìm được người dẫn đường cho ta vượt bãi lầy
không?
Cậu bé chăn ngựa nhìn thẳng vào cặp mắt nghi ngờ của Trần
Bình Trọng và đáp bằng một giọng đều đều:
- Cả vùng này chỉ có hai người thuộc Màn Trò. Hai người này
biết đủ mọi xó xỉnh của bãi lầy. Một người thì tôi không biết có còn ở
đây không vì từ dạo theo quân lên ải Khả Lá tôi bặt tin ông ấy.
Nhưng còn một người nữa...
Trần Bình Trọng hỏi dồn dập:
- Ai? Ai vậy? Có ở ngay đây không?
Cậu bé chăn ngựa khẽ mỉm cười. Cậu cúi cái mình gầy nhỏ,
kính cẩn đáp:
- Thưa chủ tướng, tôi đã từng được cha tôi dẫn vào Màn Trò.
Cha tôi lăn lộn kiếm ăn năm sáu năm trời trong bãi lầy ấy. Trong
Màn Trò, chim trời và cá nhiều vô kể, bắt không thể hết được.
Trần Bình Trọng im lặng ngắm vầng trán bướng bỉnh của cậu
bé. ánh mắt của ông lướt trên khuôn mặt gầy sạm nắng. Ông lặng
ngắm đôi mắt long lanh thông minh đang nhìn lại ông một cách
thẳng thắn đầy tự tin. Trần Bình Trọng nhìn xuống dải thao xanh đeo
kín đáo trong cổ áo của cậu bé. Rồi ông quả quyết đứng phắt dậy, ra
lệnh:
- Truyền cho các đô ngũ sắp sửa lên đường!
Lệnh của ông được truyền đi mau chóng. Các chiến sĩ nhộn
nhịp đóng ngựa và sửa sang giáp, mũ. Trần Bình Trọng dẫn Hoàng
Đỗ vượt lên đầu hàng quân. Ông bảo một tì tướng nhường ngựa
cho cậu bé. Hoàng Đỗ đưa Trần Bình Trọng lên một mỏm đất cao
trên đê.
- Cửa Hàm Tử! - Hoàng Đỗ chỉ cho Trần Bình Trọng một vùng
rộng thênh thang, nước liền mây ở chân trời. Từ cửa Hàm Tử, ngón
tay của cậu bé chăn ngựa chỉ sang một chòm xóm nhỏ bé kề bên
sông Thiên Mạc. Cậu nói tiếp:
- Còn kia là làng Xuân Đình, quê tôi.
Trần Bình Trọng lặng nhìn chòm nhà im lìm trong lđá tre xanh.
Không một làn khói nào bốc lên dù rất mảnh. Trên cao lại có từng
đàn chim trời bay lượn thoải mái. Những con chim thung dung chao
cánh rồi là xuống đậu trên những mái tranh tiều tụy lẻ loi.
- Làng vắng người! - Trần Bình Trọng lẩm bẩm. Ông lo lắng
cho đạo quân của ông thiếu sự giúp đỡ cần thiết của những người
dân ở chính đất này. Con ngựa của
Hoàng Đỗ nện vó bồn chồn. Nó gò cổ đòi cương trong khi cậu
bé chăn ngựa bồi hồi im lặng nghĩ đến làng mình. Hoàng Đỗ nghĩ
đến người cha của mình. Đã hơn một năm trời nay cậu không được
tin cha. Cậu muốn chắp cánh bay ngay về làng. Trần Bình Trọng hỏi:
- Có lẽ dân làng bỏ đi hết rồi chăng?
Hoàng Đỗ lắc đầu, đôi mắt cậu long lanh:
- Người Xuân Đình chẳng bao giờ nhát thế đâu. Chắc ban
ngày họ tạm tránh vào đâu thôi.
Hoàng Đỗ chỉ tay về phía Màn Trò. Đôi mắt thông minh của
cậu bé chăn ngựa thoáng ánh lên một vẻ kiêu hãnh. Trần Bình
Trọng liếc nhìn người nô tì của mình.
Ông lưỡng lự giây lát rồi đột ngột thúc mạnh hai gót giày vào
bụng ngựa. Con ngựa chiến giật mình chồm lên, tung vó phi rất
nhanh. Hoàng Đỗ dẫn Trần Bình
Trọng vượt qua cổng chính, vòng ra mé sau làng. Hai người
xuống ngựa rồi thận trọng bước dần vào giữa chòm nhà im lìm.
Những con chim đang đậu trên mái nhà hoảng sợ cất cánh bay vù
lên. Chúng kêu inh ỏi ngang trời.
- Họ đi hết thực rồi! - Trần Bình Trọng ngơ ngác nhìn những
căn nhà nhỏ không còn một vật đáng giá. Nhà nào cũng đã dọn
sạch trơn. Hoàng Đỗ bồi hồi đi giữa những kỷ niệm thuở nhỏ.
Những gốc sung mọc dệ ao, những tán bàng rợp bóng nay chỉ còn
trơ những cành gầy guộc. Này đây chiếc cầu ao bắc bằng hai đoạn
tre trên mặt nước mùa xuân lặng sóng, thỉnh thoảng một con rô đớp
bọt dưới chân bèo... Tất cả đều gợi cho Hoàng Đỗ một cảm giác êm
đềm thân thiết. Chú bé chăn ngựa bước vào một căn nhà. Hoàng
Đỗ vốc một nắm tro trong bếp giơ lên cho Trần Bình Trọng xem. Tro
đã nguội nhưng vẫn chưa rã, còn phân biệt được dễ dàng đâu là tàn
gỗ, đâu là than trấu. Trần Bình Trọng nhìn những mảnh vườn nhỏ bị
đào xới chẳng còn lấy một luống khoai non.
- Họ chỉ tạm lánh vào Màn Trò thôi! - Cậu bé chăn ngựa thích
thú khi nhận thấy những cái làm cho cậu tin rằng những người dân
Xuân Đình đã vào Màn Trò, và một điều chắc chắn nữa là họ đã có
một người dẫn đường thật tốt. Trần Bình Trọng lơ đãng nhìn quanh.
Ông chưa tin rằng những người dân Xuân Đình hãy còn ở quanh
quất đâu đây. Dường như không hề chú ý tới điều ấy, chú bé nói,
giọng rất tự tin:
- Chắc chắn là dân Xuân Đình vào Màn Trò! Bến thuyền cuối
làng không còn lấy một cái thúng cóc.
Trần Bình Trọng nói:
- Nếu vậy thì ngươi đi gọi họ về đây.
- Thưa chủ tướng, không nên đi gọi. Cứ để mặc họ họ sẽ về
tìm ta.
Cậu bé nô tì chỉ về những bụi lau rậm xa xa:
- Bây giờ chắc ở đấy phải có hàng trăm cặp mắt đang xem xét
những gì xảy ra trong làng Xuân Đình. Họ chưa thể biết chắc đạo
quân vào làng là quân ta hay là giặc. Như thế, nếu ta tiến vào Màn
Trò, họ sẽ đánh trống báo có động. Dân làng sẽ chạy hết. Còn nếu
như ta cứ ở nguyên đây, họ theo dõi, khi nào họ nhận ra ta đúng là
quân triều đình, tự họ sẽ tìm đến ta.
Đôi lông mày của Trần Bình Trọng giãn dần. Ông ngẫm nghĩ
rồi hạ lệnh cho quân nghỉ, trừ những toán tuần phòng cẩn mật bốn
mặt làng. Ông bảo cậu bé nô tì chăn ngựa.
- Ngươi ở quanh đây, nhỡ ta có cần hỏi điều gì nữa chăng.
Cậu bé nô tì cúi đầu vâng lệnh, nhưng lại đột ngột nhìn lên
thưa:
- Chủ tướng cho phép tôi đi một lát tìm người nhà ạ.
Vẻ dễ dãi, Trần Bình Trọng gật đầu:
- Được, đi đi, mau về nhé!
Và khi thấy cậu bé nhảy chân sáo ra đường làng, con đường
rợp bóng tre xanh dịu, Trần Bình Trọng bất giác mỉm cười...
Chương 2
Mặc dù Trần Bình Trọng nhận thấy cậu bé chăn ngựa nói có lý
nhưng ông vẫn chưa tin hẳn lời cậu. Không phải vì chú bé còn ít
tuổi, mà đó là do thói quen của ông, một người trong họ nhà vua,
đời đời nối dòng làm tướng. Trong mọi việc quân, việc nước, những
người thuộc dòng tôn thất nhà Trần chia nhau, thay nhau nắm giữ
tất cả những chức vị quan trọng. Mỗi mệnh lệnh của họ phát ra là
hàng vạn người tuân theo răm rắp...Trần Bình Trọng cũng như
những người cùng họ thường chỉ tin ở sự hiểu biết của mình. Từ khi
giặc Nguyên xâm phạm đất nước đến nay, thói quen ấy tuy nhạt dần
đi nhưng cũng vẫn còn rất mạnh. Vì vậy,
Trần Bình Trọng nửa tin nửa ngờ lời nói của cậu bé chăn
ngựa, một thằng bé gia nô mặc áo lính trong đội quân của ông.
Nhưng khoảng đầu giờ mão, vọng canh cuối làng gõ một tiếng mõ
báo hiệu có người lạ mặt. Trần Bình Trọng ra lệnh cho dẫn vào. Lát
sau quân canh cuối làng đưa vào một ông già. Ông ta cao lớn gầy
guộc, có đôi tay bắp thịt đã teo lại nhưng nước da vẫn đỏ đẹp lạ
thường.
- Lão xin chào tướng quân!
Ông già lạ mặt khom lưng vái Trần Bình Trọng. Vốn là người
xưa nay vẫn kính nể những bậc cao tuổi, Trần Bình Trọng vội gạt đi:
- Ông lão cứ đứng thẳng. Làm sao cụ biết ta ở đây mà đến tìm
thế?
- Lão biết có quân về từ lúc tảng sáng nhưng lão vẫn phải dò
lại xem có đích xác không. Bây giờ lão đã nhận đúng là quân triều
đình rồi nên lão xin vào hầu. Dân Xuân Đình cử lão đi trước để xem
có giúp đỡ được tí gì cho quân ta chăng?
- Lão là người Xuân Đình à? Thế dân làng chạy đâu hết rồi?
- Dân Xuân Đình ở cả trong Màn Trò thôi!
Trần Bình Trọng nhìn quanh, vẻ muốn tìm cậu bé chăn ngựa
nhưng chưa thấy cậu về. Ông mỉm cười hỏi:
- Thế làm sao ông lão biết quân ta là quân triều đình?
- Lão biết chứ! Lão nhìn hiệu cờ, hiệu phướn. Đạo quân này là
đô nhất trong quân Thánh dực. Lão còn biết tướng quân chính là
Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng nữa kia.
Trần Bình Trọng kinh ngạc nhìn ông già. Lòng ông phân vân.
Ông già nói tiếp, và lần này đôi mắt của ông ta thoáng ánh lên hóm
hỉnh:
- Hồi cuối năm ngoái, Quan gia bày yến ở điện Diên Hồng.
Quan gia cho gọi bô lão cả nước lên kinh dự. Lão cao tuổi nhất làng
Xuân Đình nên cũng được vời vào. Hôm ấy lão thấy tướng quân cắp
kiếm đứng hầu sau lưng Quan gia...
Nói đến đây, ông già lạ mặt chợt cười để lộ hàm răng chỉ còn
lởm chởm vài chiếc, và chòm râu bù rối của ông ta rung vểnh ngược
lên, nom rất lạ:
- Lúc Quan gia hỏi bô lão xem giặc Nguyên thế mạnh hùng hổ
như vậy thì ta nên đánh hay nên hòa, lão còn nhớ tướng quân gầm
lên trước tiên: “Đánh! Đánh!
Đánh! Xin Quan gia cho đánh!”
Trần Bình Trọng ngượng ngùng ngắt lời:
- Tại ta nơm nớp sợ bô lão dàn hòa, nhưng hòa mà phải cắt
đất, nộp cống, xưng thần thì có khác chi đầu hàng.
Ông già lạ mặt im lặng mến phục vẻ thành thật của Trần Bình
Trọng. Ông tướng Thánh dực hồ hởi nói:
- Ông lão thấy thế nào?
- Đó là vì tướng quân chưa hiểu hết bụng dân đó thôi. Những
bô lão được Quan gia vời vào điện Diên Hồng ăn yến đều là những
người đã từng cầm giáo đuổi giặc trước đây hai mươi bảy năm. Lão
nói thật xin tướng quân đừng giận, chắc vào cái năm Đinh Tị ấy,
tướng quân mới được ba, bốn tuổi chi đó chứ gì?
Kỳ lạ thay, nhận xét thẳng thắn của ông già không làm cho
Trần Bình Trọng giận. Ông nói:
- Ông lão cứ nói hết đi!
Được lời, ông già tiếp:
- Năm ấy bô lão cả nước bàn đánh cũng như tướng quân vậy.
Chắc rằng điều ấy hợp với lòng mong muốn của tướng quân.
Ông già vén tay áo để lộ hai chữ “Sát Thát” thích chàm trên lần
da rám đỏ.
- Lòng lão giá có phanh phui được thì lão cũng xin trình để
tướng quân hiểu thấu cho.
Trần Bình Trọng cảm động:
- Ta hiểu lắm.
- Ông cũng vén lá giáp che cánh tay phải và mở to đôi mắt kiêu
hãnh.
- Ông lão xem đây! Hai chữ “Sát Thát” này đã ăn sâu vào
xương thịt ta rồi.
Ông già nói, vẻ chân thành:
- Lão có một đứa con trai. Trước đây nó đã nói cho lão nghe
nhiều về tướng quân. Lão biết rằng tướng quân ưa lời nói thẳng và
rộng lượng với kẻ dưới. Lão đã già, lại sinh sống ở nơi vắng vẻ. Lão
nói năng nhỡ có điều gì không phải thì xin tướng quân đừng chấp.
Vả chăng, lão nghĩ rằng mua được những lời nói thẳng thật là khó
đấy tướng quân ạ. Thôi hãy gạt chuyện đó ra. Tướng quân cho
phép lão được hỏi điều này: “Có phải Tiết chế đã ra lệnh rút quân
khỏi Vạn Kiếp rồi không?”
Trần Bình Trọng không đáp. Ông cúi đầu xuống tỏ ý chuyện rút
quân là điều có thật. Ông già lạ mặt chăm chú ngắm Trần Bình
Trọng một lát rồi hỏi, giọng nhỏ nhẹ, nghe xa vời như từ đâu vẳng
đến:
- Chắc rằng thế giặc mạnh lắm phải không tướng quân? Mà
Thăng Long cũng mất rồi chăng?
Trần Bình Trọng ngửng vội đầu nhìn qua khuôn cửa lớn. Mặt
ông bỗng biến sắc:
- Khói! Khói! Cháy rồi à?
- Đúng! Cháy rồi đấy. Thăng Long bốc lửa lúc canh ba đêm
qua. Thượng tướng quân Trần Quang Khải đã đem binh qua đây để
rút về phủ Thiên Trường.
- Thế là mất kinh thành rồi! Mất Thăng Long rồi!
Trần Bình Trọng kêu thầm trong lòng: “Mất Thăng Long rồi!
Thăng Long của ta!” ông giận dữ đau đớn nhớ lại kinh thành yêu
quý nơi ghi bao nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ trong cuộc đời của ông. Ông
tưởng chừng như nghe thấy bên tai có tiếng chày đập vải chểnh
choảng trong sương sớm, tiếng chày của những người con gái dệt
vải ở một phường phía bắc kinh thành. Ông nhớ những buổi dẫn
quân Thánh dực ra trường bắn luyện tập; ánh giáp đồng, màu cờ
đỏ, khói pháo lệnh cùng hòa lẫn thành một không khí say sưa. Ông
nhớ đến những đêm cùng các tướng ngồi nghiêm trang trong Giảng
vũ đường nghe Quốc công Tiết chế dạy binh thư.
Ông nhớ những buổi chiều theo hầu Quan gia dạo thuyền trên
sông Cơ Xá. Ông nhớ những đêm đem quân tuần phòng ngoài cửa
Dương Minh trang bóng trăng xanh dịu. Ông nhớ cả những phố
phường đông đúc bên ngoài Hoàng thành, nhớ những cô hàng bán
rượu, nhớ những làng trồng hoa rực rỡ trong tiết xuân...
- Mất Thăng Long rồi! Thăng Long của ta!...
Trần Bình Trọng nghẹn ngào. Từ trong khóe mắt của ông, hai
giọt lệ chảy ra, lăn trên má, rớt xuống vạt áo giáp dát vảy đồng. Ông
già lạ mặt im lặng. Ông già nghĩ thầm trong dạ: “Khóc được như vậy
cũng nhẹ lòng được phần nào!” ông già lựa lời nhủ nhẹ nhàng:
- Giặc chiếm Thăng Long nhưng giặc chiếm thế nào được lòng
người dân Thăng Long. Tướng quân thử nghĩ lại coi. Trước đây hai
mươi bảy năm, Ngột Lương Hợp Thai cũng đã chiếm được Thăng
Long...
- ...Nhưng quân dân ta đã đuổi cổ tướng giặc Ngột Lương Hợp
Thai khỏi Thăng Long...
- Trần Bình Trọng bỗng thốt lên, tình cảm ông như đang bị kích
thích mạnh mẽ.
- Rồi còn đuổi cổ nó ra khỏi bờ cõi nước ta nữa chứ! Bởi vì cả
nước ta đã đấu sức lại mà đánh! Đấy chính là điều quân ta, dân ta
phải ghi lòng tạc dạ. Rút quân khỏi Vạn Kiếp thật là một kế rất sâu.
Trần Bình Trọng lắng dần nỗi đau đớn và cơn giận dữ. Ông
trầm lặng suy nghĩ. Đánh giặc là một việc lớn của đất nước. Người
làm tướng phải biết nhìn xa thấy rộng. Người làm tướng phải biết
dẹp cái nóng của chính mình. Phải biết tính cho đầy đủ mọi bề hơn
thiệt trước khi ra một mệnh lệnh. Nếu như trước đây ông chưa được
đánh trận Bình Than thì sau này ông sẽ được đánh một trận lớn
hơn, thắng to hơn, nằm trong toàn bộ một kế hoạch đã được suy
tính kỹ càng.
Thế đấy, đánh giặc không chỉ bằng sức mà phải bằng trí nữa.
Ông từ từ ngẩng nhìn ông già lạ mặt. Ông khẽ hỏi:
- Ông lão đến tìm ta có điều gì muốn dạy?
- Chết nỗi, lão chẳng dám dạy ai. Lão đến xem quân ta cần gì,
dân Xuân Đình giúp được đến đâu xin cố sức làm đến đấy. Lòng
trăm họ bây giờ như thế cả đó.
- Vậy thì ta cũng nói thật: Quân ta đang đói, và ta cần người
dẫn đường qua bãi lầy Màn Trò.
- Chết thật, lão mải chuyện quá. Lúc lão về làng, dân Xuân
Đình đã xếp sẵn lương ăn xuống thuyền rồi. Bây giờ tướng quân
cho lão ra ới họ một tiếng là họ đem tới ngay.
Nhưng ông già chưa phải gọi tiếng nào, dân Xuân Đình đã
chống thuyền vào bến đầu làng. Họ khiêng lên bãi những thúng
khoai sọ rất to. Trần Bình Trọng sung sướng đi giữa những người
lính của ông ra đón dân làng Xuân Đình. Ông kín đáo mỉm cười
trước sự ngượng nghịu của những người lính trẻ khi nhận thúng
khoai do mấy cô gái quê trao cho. Mấy chục thúng khoai tuy nhiều
nhưng đối với đạo quân hàng ngàn người thì cũng chỉ đủ bữa cháo.
Dân Xuân Đình nói với những người lính con em của mình rằng họ
đã cho đi lấy lương ở trong Màn Trò. Chỉ ngày mai, lương sẽ về đến
nơi. Xuân Đình quyết không để quân bị đói. Dân và lính cùng vui vẻ
nhóm lửa bắc bếp. Khói bốc lên đó đây. Tiếng chuyện trò, tiếng cười
cũng ồn lên đó đây. Trần Bình Trọng và ông già lạ mặt vui vẻ về căn
nhà cũ. Trong mảnh vườn trước ngõ cũng đã có mấy người dân
Xuân Đình đang giúp các chiến sĩ nấu cháo. Trần Bình Trọng đứng
lặng trong căn nhà, lắng nghe những tiếng động bên ngoài. Dân và
lính đang vui đùa trong khi làm việc. Ông chợt mỉm cười khi một
người lính nào đó cất cao lên tiếng hát dân ca đầy kiêu hãnh của
vùng Thiên Mạc: Đất nghịch! Đất nghịch (dô hò) bãi Màn Trò Trống
đồng Thiên Mạc (dô hò) tiếng thúc to Cầm giáo trong hàng (dô hò)
những gia nô
Đừng để ai khinh (dô hò) Quan trung khách Thù nhà nợ nước
(dô hò) máu không sôi. Thù biết trả (dô hò) nợ biết đòi Biển, trời,
đất, nước đời đời của chung.
Ông già kỳ dị làng Xuân Đình đột nhiên biến sắc mặt. Ông già
đã nghe rõ những câu hát về lòng yêu nước và niềm khao khát tự
do của những người nô tì vùng Thiên Mạc.
Chương 3
Trong một buổi sáng đã có hai người nói với Trần Bình Trọng
nhiều điều có ích. Họ chỉ là người lính, người dân bình thường,
nhưng đều đã trải qua nhiều trận chiến đấu gay go. Họ đã làm cho
Trần Bình Trọng vui lòng và tin rằng họ sẽ làm tròn những công việc
ông giao cho. Kể từ khi đất nước có giặc xâm lược,
Trần Bình Trọng đã mắt thấy tai nghe nhiều sự việc chứng tỏ
tài năng và lòng yêu nước của những người không phải dòng dõi
quý tộc. Ông đã được thấy những người lính bình thường lăm lăm
ngọn giáo ngắn trong tay, xông thẳng tới trước những tên tướng
Nguyên và dùng ngọn giáo ngắn ấy đánh ngã tướng giặc cưỡi trên
lưng những con ngựa cao lớn. Ông đã từng giao nhiều việc quân
cho những người lính của mình.
Có những việc, người được giao làm đều biết chắc rằng mình
một đi là không trở lại. Nhưng họ đều nhận lệnh với một vẻ kiêu
hãnh khác thường. Ông cũng đã từng thấy những người lính của
mình nạo vết thương cho nhau. Không một tiếng rên la, không một
lời than vãn. Có một lần, một chiến sĩ của ông bị dao chém sả cánh
tay. Lưỡi dao phạt mất mảng thịt mang hai chữ “Sát Thát” thích
chàm. Người lính đã chìa cánh tay có vết thương cho bạn buộc hộ
và lại sẵn sàng giơ tay còn lại cho người bạn khác thích hai chữ “Sát
Thát” mới... Những tháng chiến đấu trên biên thùy phía bắc đã khiến
Trần Bình Trọng biết đánh giá một con người trên những mặt nào.
Và ông cũng biết tự mình tìm hiểu mình. Cho nên, lo cho quân bắc
bếp xong, Trần Bình Trọng dẫn ông già Xuân Đình lên trên đê cao
xem thế đất. Ông hỏi nhiều câu mà trước đây không bao giờ ông đặt
ra với những người không mang ấn phong hầu như ông. Những câu
hỏi- đáp nối tiếp nhau đã chứng tỏ bài học lượm được trong cuộc
đời mang lại cho Trần Bình Trọng khá nhiều bổ Ích. Ông già làng
Xuân Đình chẳng những giảng giải cho
Trần Bình Trọng nghe rất kỹ về thế đất vùng Thiên Mạc, mà
ông ta còn nhận xét rất đúng phép dùng binh: với thế đất như thế,
cách bày trận sẽ phải ra sao.
Ông ta nói:
- Dải cát sa bồi này chạy dài tít tắp, không rõ đâu là bến bờ.
Mặt trước bãi cát là con sông Thiên Mạc rộng mênh mông. Mặt sau
lưng nó là bãi lầy Màn Trò ăn mãi vào sâu hàng trăm dặm. Chỗ
chúng ta đứng đây là địa thế làng Xuân Đình. Xuân Đình ở đầu bãi
lầy Màn Trò, nhưng cũng ở đầu dải cát sa bồi. Từ trước đến nay, ai
cũng cho rằng trong bãi lầy không có người ở. Giặc Nguyên hơn ta
về quân cưỡi ngựa, ta giỏi hơn chúng về tài đánh trên sông. Nếu
như trận đánh xảy ra ở đây, giặc sẽ tránh giao chiến trên sông Thiên
Mạc với ta. Chúng sẽ rút lên dải cát sa bồi này, lập thế trận dựa lưng
vào bãi Màn Trò để quyết chiến với ta trên vùng đất khô ráo quen
với vó ngựa của chúng.
Trần Bình Trọng suy nghĩ về lời nói của ông già:
- Có phải ông lão cho rằng tướng giặc sẽ lấy dải cát sa bồi này
làm đất quyết chiến không?
- Chính vậy đấy! Nhưng ta có cách buộc chúng không thể
quyết chiến ở đây mà phải chịu những đòn ta đánh ở chỗ khác và ở
những hướng, khác với ý muốn của chúng.
- Ông lão nói nốt đi! - Trần Bình Trọng giục, rõ ràng câu chuyện
đã khiến ông thật sự quan tâm.
- Đây nhé! Tướng quân xem, chúng muốn đổ quân lên bộ cũng
phải dùng những bến thuyền này. Bởi vì ở đây bờ sông thấp, lại có
những vụng nhỏ tránh được sóng gió. Nhưng chúng không bao giờ
nghĩ rằng chúng có thể bị đánh từ cửa Hàm Tử trở xuống, vì rằng
bên kia cửa Hàm Tử là bến Chương Dương thẳng đường về Thăng
Long, giặc sẽ dễ dàng ra cứu.
Trần Bình Trọng khen thầm. Ông khẽ gật đầu và giơ tay chỉ về
phía Màn Trò hỏi tiếp:
- Ông lão định phục binh trong đó để đánh vỗ vào lưng quân
giặc phải không?
- Ấy là nếu lão cầm quân, chứ lão đã trên bảy mươi tuổi đầu rồi
và cũng chẳng ai bái lão làm tướng. Nhưng nếu lão cầm quân, lão
sẽ bày trận như vậy đó!
Gương mặt Trần Bình Trọng rạng rỡ hẳn lên. Ông nói to với
ông già Xuân Đình:
- Ông lão nói rất đúng. Ta cũng sẽ phục quân trong Màn Trò.
Như thế, nếu giặc phải giao chiến trên sông Thiên Mạc hay trên bãi
sa bồi này chúng đều phải đánh trên thế đất chết của chúng. Binh
pháp cũng nói như vậy đấy!
Ông già Xuân Đình nhận lời khen một cách im lặng. Ông ta kín
đáo nhìn Trần Bình Trọng với một vẻ quý mến. Trần Bình Trọng nói
tiếp:
- Nhưng ngặt vì quân ta tuyển dân binh phía bắc lộ Khoái nên
chẳng có người thông thạo thế đất Màn Trò. Ông lão chưa trả lời ta
xem có tìm được người dẫn đường không.
- Chính để trả lời câu hỏi đó mà lão nói về thế đất của cả vùng
Thiên Mạc này. Biết rõ Màn Trò, trị được Màn Trò nay chỉ còn có lão
mà thôi. Chả là vì lão quanh năm ngày tháng cứ lặn lội trong cái bãi
lầy ấy mà. Cũng vì vậy mà người vùng này quen gọi lão là ông già
Màn Trò.
Ông già cở...
Tác giả: Hà Ân
Ebook: HockeyQ
TVE4U
TRUYỆN LỊCH SỬ CHO THIẾU NHI
TRUYỆN LỊCH SỬ
DÀNH CHO THIẾU NHI
Tác giả: Hà Ân
BẾN BỜ THIÊN MẠC
Chương 1
Khi trời tang tảng sáng, Trần Bình Trọng dẫn đạo quân của
mình về tới bờ Thiên Mạc. Mưa xuân vẫn lất phất bay. Sau màn
mưa, bãi lầy Màn Trò càng tăng thêm vẻ bí ẩn. Những bụi lau đuôi
cờ mới đâm bông kéo ngút ngàn. Tiếng lá xát vào nhau tưởng như
cạnh sắc răng cưa của lá không hề vì ngấm nước mưa mà nhụt đi
chút nào. Gió đông mỗi lúc mỗi mạnh dần thêm, đập điên đảo những
bông lau còn cúp. Gió cứ tràn đi; tiết trời càng trở lạnh khiến Trần
Bình Trọng rùng mình. Ông gò cương ngựa chiến, nheo mắt nhìn
sâu vào bãi lầy, cố gắng tìm ra con đường độc đạo xuyên qua Màn
Trò dẫn xuống mé nam vùng Thiên Mạc.
- Mưa thế này, Màn Trò càng nguy hiểm lắm đây - Trần Bình
Trọng lẩm bẩm nói, mắt chăm chú nhìn đôi diều hâu lượn tròn trên
bầu trời của bãi lầy.
Khúc sông Hồng chảy qua tỉnh Hưng Yên. Nay là Mạn Trù
(Hưng Yên) Trần Bình Trọng đã từng vượt Màn Trò một lần khi ông
mới được triều đình phái về trấn thủ lộ Khoái. Lần ấy cách đây đã
sáu năm, mà sáu năm vừa qua, biết bao nhiêu việc nước, việc quân
đã choán hết tâm trí ông. Bây giờ đứng trước Màn Trò, ông chỉ còn
nhớ rằng vào đấy sẽ gặp những chằm đất lầy ngập lút đầu người,
những ổ rắn độc đủ các loại và những vũng bùn nước lúc nhúc cá
sấu. Màn Trò chỉ còn lưu lại trong trí nhớ của ông những hình ảnh
như vậy trong lúc chính ông đang cần dẫn đạo quân này vượt qua
bãi lầy. Đã vậy, đạo quân của ông lại đang mệt mỏi, đang thiếu
lương ăn, trải qua ba ngày ròng rã vừa đánh vừa rút lui từ Vạn Kiếp
về. Thật khó khăn!... Trần Bình Trọng quay lại ra lệnh cho viên chấp
hiệu đi sau ông. Một ngọn cờ xanh vẫy lên, đoàn người ngựa dừng
cả lại. Những người lính vơ quàng nắm lá lau khô, chụm lửa. Họ
vừa sưởi cho đỡ cóng vừa dốc nốt những hạt gạo cuối cùng nấu ít
cháo loãng. Từng làn khói xám đặc bốc lên, tỏa lẫn vào màn mưa
đang vén rất nhanh. Trong chốc lát, vầng đông chiếu lộng lẫy cả một
vùng Thiên Mạc mênh mang...
- Ai biết vùng này lên ngay ta hỏi! - Trần Bình Trọng giật giọng
ra lệnh. Những người lính đứng gần ông vội vã truyền đi:
- Ai biết vùng này lên ngay hầu chủ tướng!
- ... lên ngay hầu chủ tướng!
- ... chủ tướng!
Tiếng lệnh truyền lan mãi xuống dưới những hàng quân cuối
cùng. Tiếng lệnh truyền hòa lẫn vào tiếng nói cười râm ran của các
chiến sĩ đang xúm xít quanh những đống lửa sưởi ấm. Trần Bình
Trọng ngồi xuống một gốc cây đổ ven đường. Ông bỗng cảm thấy
trong người bứt rứt, bồn chồn. Và cái bứt rứt ấy cứ lớn mãi lên trong
lòng ông. Ông cố trấn tĩnh lòng mình. Ông cố suy nghĩ để quên đi
cơn giận và cảm giác đói mệt đang muốn kéo ông nằm xuống mặt
cỏ ngủ vùi.
Trần Bình Trọng nghĩ về thế nước. Ông chỉ là viên tướng chỉ
huy một đạo quân vài ngàn người. Những cuộc họp quan trọng của
triều đình bàn việc lớn, ông không được dự. Nhưng ông rất tin
tưởng ở tài cầm quân của Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn. Ông
còn nhớ rất kỹ những điều Tiết chế đã dặn dò tướng sĩ trong các
buổi học binh thư tại Giảng vũ đường. Ông còn nhớ dáng đứng oai
phong của Tiết chế trong buổi duyệt toàn bộ quân đội tại bến Đông
Bộ Đầu. Ông còn nhớ khi ông đang giữ ải Khả Lá, thì bản Hịch
tướng sĩ của Tiết chế truyền đến. Bây giờ đây, bên tai ông, tưởng
chừng lời hịch sang sảng vẫn còn vang động: “...Ta đây ngày quên
ăn, đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa...”
Trần Bình Trọng phà mạnh một hơi thở dài... Ông cũng đã bao
nhiêu đêm mất ngủ, ông cũng đã ruột đau như cắt bao ngày, nhớ
những khi “...sứ giặc đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều
mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ!” Lũ giặc
nào chẳng lòng tham không đáy, bạc vàng nào đối với chúng cho
vừa, cũng như thịt dê nào đủ cho bầy hổ đói... Trần Bình Trọng lại
phà một hơi thở mạnh. Lòng căm thù giặc của Tiết chế đã khiến cho
tướng sĩ càng vững lòng tin ở triều đình. Riêng ông, Trần Bình
Trọng, càng mài sắc ý chí diệt lũ giặc nước. Vừa qua, quân các lộ
kéo lên Vạn Kiếp chật đất, chật sông. Hai mươi vạn chiến sĩ, giáo
mác lập lòe, cờ phướn phấp phới. Ngựa hí, voi gầm, trời long đất lở.
Những tưởng phen này được đánh cho lũ giặc nước tan không còn
mảnh giáp... Lúc bấy giờ, Trần Bình Trọng đóng quân trên bến Bình
Than. Đứng trên đài nhìn xa chót vót trên ngọn đa cổ thụ. Trần Bình
Trọng thấy rõ quân sĩ đôi bên hàng ngày di chuyển để bày thành thế
trận trong vùng Vạn Kiếp đồi núi trập trùng. Trước mặt trận địa của
ông là một mỏm đồi cao có một toán quân giặc đóng chiếm. Chúng
kéo cờ thám mã, hiệu cờ của bọn lính trinh sát. Trần Bình Trọng
hiểu rõ sự nguy hiểm của loại lính giặc này. Ông đã liền mấy đêm
điều khiển các chiến sĩ của ông bám sát, tìm hiểu cách đóng quân
của chúng. Ông đã lập xong kế hoạch, một kế hoạch đánh chắc
thắng. Nhưng vừa lúc đạo quân chính của giặc tràn tới thì thình
lình... Tiết chế hạ lệnh rút lui!... Nghĩ đến đấy, Trần Bình Trọng đâm
choáng váng. Ông nắm chặt tay, đấm mạnh xuống đùi mình một cái.
Làm tướng mà phải rút lui là một điều rất đau lòng!...
Ông cảm thấy bực bội và càng đắm sâu vào những suy nghĩ
miên man... Ông là một vị tướng. Ông hiểu rằng cầm quân có lúc
tiến nhưng cũng có lúc lùi nếu cần thiết. Lùi để làm cho địch Sinh
kiêu căng, lùi để nhử địch vào sâu trong thế trận bày sẵn, lùi để
tránh thế mạnh ban đầu của địch. Ông hiểu như vậy, nhưng ông vẫn
đau lòng và từng lúc, tim ông đập rộn lên, ruột gan như xát muối...
Từ giữa đám quân đông, một cậu bé chen tới trước mặt ông.
Dáng người còm nhỏ của chú ta chìm ngập giữa các đợt sóng của
dải cờ và ngù giáo. Cậu bé quỳ một gối chào Trần Bình Trọng và
nói:
- Thưa chủ tướng, tôi là Hoàng Đỗ xin lại hầu.
Trần Bình Trọng vẫn mải suy nghĩ. Hai mắt ông mở trừng trừng
mà ông vẫn không nhận thấy có người trước mặt. Mãi sau, ông mới
sực tỉnh. Ông chăm chú ngắm cậu bé và cảm thấy gương mặt này
quen quen. Trên vầng trán dô của chú ta có thích chàm ba chữ
“Quan trung khách”. Ba chữ thích chàm đó khiến Trần Bình
Trọng nhớ ra đây là một chú bé đã từng bị ông phạt giam vì tội
dám cưỡng lại lời ông. Trần Bình Trọng cau mày hỏi:
- Ngươi đến hầu ta có việc gì?
- Thưa chủ tướng, tôi cũng không biết. Vừa rồi có lệnh đòi
người lên hầu cho nên tôi phải lên.
- À! Ngươi biết thế đất vùng này sao?
- Dạ biết!
Trần Bình Trọng nhìn từ đầu đến chân cậu bé. Chú ta mặc một
manh áo chiến rộng quá. Vải áo bạc màu xếp lùng nhùng quanh cái
thắt lưng. Ngang sườn, chú ta giắt một cái roi ngựa bằng gỗ liễu.
Trần Bình Trọng nhớ dần ra. Hoàng Đỗ là một chú lính chăn ngựa
trong đạo quân của ông. Chú ta thường lấy trộm ngựa chiến đem ra
bãi sông tập quần. Viên chỉ huy đô đã nhiều lần đánh đòn mà chú ta
cũng vẫn không chừa.
- Ngươi biết rõ thế đất này thật à?-Trần Bình Trọng hỏi gặng.
- Thưa chủ tướng, tôi vốn là người Thiên Mạc.
Trần Bình Trọng chợt nhìn thấy cổ chú lính có đeo một sợi dây
thao màu lục. Ông kinh ngạc giơ tay gỡ sợi dây thao. Sợi dây thao
có đeo một đồng tiền bạc giấu kín trong ngực chú bé.
- Ngươi lấy cái này ở đâu thế?
Chú bé tái mặt. Chú nhìn ông tướng của mình một lúc rồi mới
đáp:
- Đồng tiền này là đồng tiền tôi được thưởng.
- Hả? Được thưởng à?... Ở đâu thế?
- Thưa, sau trận Khả Lá cuối mùa đông năm ngoái.
Thốt nhiên Trần Bình Trọng nhớ lại như in trận phá vây ải Khả
Lá. Đó là một trận đẫm máu không cân xứng giữa hai lực lượng. Lúc
bấy giờ đứng giữa vòng vây, Trần Bình Trọng nhìn bốn bề thấy quân
giặc trùng trùng điệp điệp... Ông đã cùng những người lính của mình
dốc sức đánh một mũi, mở đường máu thoát khỏi vòng vây. Sau
trận này, Trần Bình Trọng thưởng tiền bạc cho tất cả những người
lính đã cùng phá vây với ông... Ờ... Đúng, chú bé này cũng đã được
chính tay ông thưởng cho đồng tiền. Nét mặt ông dịu hẳn xuống.
Ông hỏi tiếp cậu bé chăn ngựa, giọng đã nhẹ nhàng hơn:
- Ngươi bị bán làm nô từ bao giờ thế?
Cậu bé chăn ngựa im lặng một lúc lâu, dường như không
muốn nhắc tới chuyện cũ đau lòng. Mãi sau, giọng nói khó nhọc của
chú ta mới thốt lên được:
- Thưa, từ năm tôi mười một tuổi. Cha tôi mắc nợ người ta
không trả được. Chủ nợ bắt tôi đem bán làm nô. Người ta thích lên
trán tôi ba chữ này.
Chú bé sờ tay lên mấy chữ “Quan trung khách”, mấy chữ đánh
dấu một con người mất quyền tự do, có thể bị chủ nô bán đi mua lại
như mua bán một con vật vậy.
Hoàng Đỗ cúi mặt xuống. Chú bé thấy mình chẳng có điều gì
đáng hổ thẹn cả. Nhưng chú cúi mặt vì không muốn để Trần Bình
Trọng nhận thấy vẻ mặt xúc động của mình. Trần Bình Trọng cũng
im lặng một lát. Ông hối hận đã hỏi chạm vào niềm riêng của cậu bé
chăn ngựa đã từng phá vây với ông. Trong đạo quân của ông có khá
nhiều nô tì người lộ Khoái. Trải qua hai tháng chiến đấu trên biên
thùy phía bắc, ông đã hiểu họ nhiều. Ông hiểu về lòng yêu nước của
họ. Ông hiểu về sự khát khao thoát kiếp nô tì của họ. Ông càng dịu
giọng:
- Ta muốn cho quân nghỉ một buổi trước khi rút về phía nam lộ
Khoái. Ngươi tìm cho ta một chỗ đóng quân và tìm cho ta một người
dẫn đường vượt bãi lầy Màn Trò.
Cậu bé chăn ngựa ngẫm nghĩ. Chẳng hiểu nếu mình thẳng
thắn nói ra thì người ta có tin mình không? Màn Trò là một vùng bí
ẩn, rộng lớn, chứa đầy cạm bẫy.
Nhưng chú đã được cha chú dẫn đi khắp mọi xó xỉnh của bãi
lầy. Chú có thể giữa ban đêm cũng tìm ra đường vượt Màn Trò.
Nhưng nói ra điều ấy liệu có người tin được không? Chú mới chỉ là
đứa bé mười lăm tuổi đầu. Cuộc đời cơ cực của người nô tì lại làm
cho chú héo hon cằn cỗi như trái ổi khô thế này. Ai dám tin lời một
đứa bé còm nhom chỉ đứng đến ngang ngực mình!... Nhưng rồi chú
lại nghĩ tới lời cha dặn trong buổi chia tay năm xưa. Cha chú đã nắm
chặt đôi vai nhỏ của chú và dặn: “Dù mày có bị người ta bắt làm nô
thì mày cũng đừng quên rằng mày là con người!” Là con người! Đã
vậy thì cứ nói cho đúng với lòng mình. Hoàng Đỗ trả lời:
- Chủ tướng nên đem quân về đóng ở làng Xuân Đình. Làng
này cách cửa Hàm Tử chẳng bao xa, lại ở kề bên lối rẽ vào bãi lầy
Màn Trò. Như thế, nếu muốn tiến hoặc lùi ngả nào cũng đều tiện cả.
Trần Bình Trọng vui mừng hỏi:
- Đường về Xuân Đình có dễ đi không?
- Thưa, chỉ mươi dặm đường cát sa bồi êm chân lắm. Nhưng
mà...
- Sao?
- Nhưng mà vượt qua Màn Trò mùa này thì khó khăn lắm.
Trần Bình Trọng cau mày kinh ngạc. Ông hỏi:
- Ta tưởng mùa này mưa xuân nhỏ, nước cạn, vượt Màn Trò
chắc cũng dễ dàng chứ?
Cậu bé chăn ngựa nghiêm trang đáp:
- Màn Trò là một vùng trũng rất rộng, mỗi bề ngang dọc hàng
trăm dặm. Mùa nước, lũ sông Thiên Mạc tràn vào, Màn Trò thành
một biển nhỏ, nước phù sa đỏ ngầu.
Lúc ấy nhìn vào chỉ thấy mênh mông chẳng biết đâu là bờ bụi.
Nhưng chính vào vụ nước vượt Màn Trò không khó khăn, miễn là có
đủ thuyền và người chèo lái.
Còn về mùa này, Màn Trò đói nước. Đâu đâu cũng là chằm lầy,
ổ rắn. Cá sấu cũng làm hàng trăm tổ để đẻ trứng. Vượt bằng thuyền
thì dễ mắc cạn mà vượt bộ thì cần có người thuộc rất kỹ đường qua
bãi lầy.
Trần Bình Trọng sầm mặt. Ông nghĩ thầm, nếu biết vậy thì ông
dẫn quân về mặt này làm gì! Chẳng thà vòng qua sông Kinh Thầy về
đông nam lộ Khoái còn hơn.
Nhưng bây giờ quân đã dẫn về đây rồi. Tốt nhất là tìm cách
vượt Màn Trò thôi. Trần Bình Trọng nhìn chỏm khăn quấn rối trên
đầu cậu bé chăn ngựa. Ông đắn đo trước khi hỏi:
- Ngươi có thể tìm được người dẫn đường cho ta vượt bãi lầy
không?
Cậu bé chăn ngựa nhìn thẳng vào cặp mắt nghi ngờ của Trần
Bình Trọng và đáp bằng một giọng đều đều:
- Cả vùng này chỉ có hai người thuộc Màn Trò. Hai người này
biết đủ mọi xó xỉnh của bãi lầy. Một người thì tôi không biết có còn ở
đây không vì từ dạo theo quân lên ải Khả Lá tôi bặt tin ông ấy.
Nhưng còn một người nữa...
Trần Bình Trọng hỏi dồn dập:
- Ai? Ai vậy? Có ở ngay đây không?
Cậu bé chăn ngựa khẽ mỉm cười. Cậu cúi cái mình gầy nhỏ,
kính cẩn đáp:
- Thưa chủ tướng, tôi đã từng được cha tôi dẫn vào Màn Trò.
Cha tôi lăn lộn kiếm ăn năm sáu năm trời trong bãi lầy ấy. Trong
Màn Trò, chim trời và cá nhiều vô kể, bắt không thể hết được.
Trần Bình Trọng im lặng ngắm vầng trán bướng bỉnh của cậu
bé. ánh mắt của ông lướt trên khuôn mặt gầy sạm nắng. Ông lặng
ngắm đôi mắt long lanh thông minh đang nhìn lại ông một cách
thẳng thắn đầy tự tin. Trần Bình Trọng nhìn xuống dải thao xanh đeo
kín đáo trong cổ áo của cậu bé. Rồi ông quả quyết đứng phắt dậy, ra
lệnh:
- Truyền cho các đô ngũ sắp sửa lên đường!
Lệnh của ông được truyền đi mau chóng. Các chiến sĩ nhộn
nhịp đóng ngựa và sửa sang giáp, mũ. Trần Bình Trọng dẫn Hoàng
Đỗ vượt lên đầu hàng quân. Ông bảo một tì tướng nhường ngựa
cho cậu bé. Hoàng Đỗ đưa Trần Bình Trọng lên một mỏm đất cao
trên đê.
- Cửa Hàm Tử! - Hoàng Đỗ chỉ cho Trần Bình Trọng một vùng
rộng thênh thang, nước liền mây ở chân trời. Từ cửa Hàm Tử, ngón
tay của cậu bé chăn ngựa chỉ sang một chòm xóm nhỏ bé kề bên
sông Thiên Mạc. Cậu nói tiếp:
- Còn kia là làng Xuân Đình, quê tôi.
Trần Bình Trọng lặng nhìn chòm nhà im lìm trong lđá tre xanh.
Không một làn khói nào bốc lên dù rất mảnh. Trên cao lại có từng
đàn chim trời bay lượn thoải mái. Những con chim thung dung chao
cánh rồi là xuống đậu trên những mái tranh tiều tụy lẻ loi.
- Làng vắng người! - Trần Bình Trọng lẩm bẩm. Ông lo lắng
cho đạo quân của ông thiếu sự giúp đỡ cần thiết của những người
dân ở chính đất này. Con ngựa của
Hoàng Đỗ nện vó bồn chồn. Nó gò cổ đòi cương trong khi cậu
bé chăn ngựa bồi hồi im lặng nghĩ đến làng mình. Hoàng Đỗ nghĩ
đến người cha của mình. Đã hơn một năm trời nay cậu không được
tin cha. Cậu muốn chắp cánh bay ngay về làng. Trần Bình Trọng hỏi:
- Có lẽ dân làng bỏ đi hết rồi chăng?
Hoàng Đỗ lắc đầu, đôi mắt cậu long lanh:
- Người Xuân Đình chẳng bao giờ nhát thế đâu. Chắc ban
ngày họ tạm tránh vào đâu thôi.
Hoàng Đỗ chỉ tay về phía Màn Trò. Đôi mắt thông minh của
cậu bé chăn ngựa thoáng ánh lên một vẻ kiêu hãnh. Trần Bình
Trọng liếc nhìn người nô tì của mình.
Ông lưỡng lự giây lát rồi đột ngột thúc mạnh hai gót giày vào
bụng ngựa. Con ngựa chiến giật mình chồm lên, tung vó phi rất
nhanh. Hoàng Đỗ dẫn Trần Bình
Trọng vượt qua cổng chính, vòng ra mé sau làng. Hai người
xuống ngựa rồi thận trọng bước dần vào giữa chòm nhà im lìm.
Những con chim đang đậu trên mái nhà hoảng sợ cất cánh bay vù
lên. Chúng kêu inh ỏi ngang trời.
- Họ đi hết thực rồi! - Trần Bình Trọng ngơ ngác nhìn những
căn nhà nhỏ không còn một vật đáng giá. Nhà nào cũng đã dọn
sạch trơn. Hoàng Đỗ bồi hồi đi giữa những kỷ niệm thuở nhỏ.
Những gốc sung mọc dệ ao, những tán bàng rợp bóng nay chỉ còn
trơ những cành gầy guộc. Này đây chiếc cầu ao bắc bằng hai đoạn
tre trên mặt nước mùa xuân lặng sóng, thỉnh thoảng một con rô đớp
bọt dưới chân bèo... Tất cả đều gợi cho Hoàng Đỗ một cảm giác êm
đềm thân thiết. Chú bé chăn ngựa bước vào một căn nhà. Hoàng
Đỗ vốc một nắm tro trong bếp giơ lên cho Trần Bình Trọng xem. Tro
đã nguội nhưng vẫn chưa rã, còn phân biệt được dễ dàng đâu là tàn
gỗ, đâu là than trấu. Trần Bình Trọng nhìn những mảnh vườn nhỏ bị
đào xới chẳng còn lấy một luống khoai non.
- Họ chỉ tạm lánh vào Màn Trò thôi! - Cậu bé chăn ngựa thích
thú khi nhận thấy những cái làm cho cậu tin rằng những người dân
Xuân Đình đã vào Màn Trò, và một điều chắc chắn nữa là họ đã có
một người dẫn đường thật tốt. Trần Bình Trọng lơ đãng nhìn quanh.
Ông chưa tin rằng những người dân Xuân Đình hãy còn ở quanh
quất đâu đây. Dường như không hề chú ý tới điều ấy, chú bé nói,
giọng rất tự tin:
- Chắc chắn là dân Xuân Đình vào Màn Trò! Bến thuyền cuối
làng không còn lấy một cái thúng cóc.
Trần Bình Trọng nói:
- Nếu vậy thì ngươi đi gọi họ về đây.
- Thưa chủ tướng, không nên đi gọi. Cứ để mặc họ họ sẽ về
tìm ta.
Cậu bé nô tì chỉ về những bụi lau rậm xa xa:
- Bây giờ chắc ở đấy phải có hàng trăm cặp mắt đang xem xét
những gì xảy ra trong làng Xuân Đình. Họ chưa thể biết chắc đạo
quân vào làng là quân ta hay là giặc. Như thế, nếu ta tiến vào Màn
Trò, họ sẽ đánh trống báo có động. Dân làng sẽ chạy hết. Còn nếu
như ta cứ ở nguyên đây, họ theo dõi, khi nào họ nhận ra ta đúng là
quân triều đình, tự họ sẽ tìm đến ta.
Đôi lông mày của Trần Bình Trọng giãn dần. Ông ngẫm nghĩ
rồi hạ lệnh cho quân nghỉ, trừ những toán tuần phòng cẩn mật bốn
mặt làng. Ông bảo cậu bé nô tì chăn ngựa.
- Ngươi ở quanh đây, nhỡ ta có cần hỏi điều gì nữa chăng.
Cậu bé nô tì cúi đầu vâng lệnh, nhưng lại đột ngột nhìn lên
thưa:
- Chủ tướng cho phép tôi đi một lát tìm người nhà ạ.
Vẻ dễ dãi, Trần Bình Trọng gật đầu:
- Được, đi đi, mau về nhé!
Và khi thấy cậu bé nhảy chân sáo ra đường làng, con đường
rợp bóng tre xanh dịu, Trần Bình Trọng bất giác mỉm cười...
Chương 2
Mặc dù Trần Bình Trọng nhận thấy cậu bé chăn ngựa nói có lý
nhưng ông vẫn chưa tin hẳn lời cậu. Không phải vì chú bé còn ít
tuổi, mà đó là do thói quen của ông, một người trong họ nhà vua,
đời đời nối dòng làm tướng. Trong mọi việc quân, việc nước, những
người thuộc dòng tôn thất nhà Trần chia nhau, thay nhau nắm giữ
tất cả những chức vị quan trọng. Mỗi mệnh lệnh của họ phát ra là
hàng vạn người tuân theo răm rắp...Trần Bình Trọng cũng như
những người cùng họ thường chỉ tin ở sự hiểu biết của mình. Từ khi
giặc Nguyên xâm phạm đất nước đến nay, thói quen ấy tuy nhạt dần
đi nhưng cũng vẫn còn rất mạnh. Vì vậy,
Trần Bình Trọng nửa tin nửa ngờ lời nói của cậu bé chăn
ngựa, một thằng bé gia nô mặc áo lính trong đội quân của ông.
Nhưng khoảng đầu giờ mão, vọng canh cuối làng gõ một tiếng mõ
báo hiệu có người lạ mặt. Trần Bình Trọng ra lệnh cho dẫn vào. Lát
sau quân canh cuối làng đưa vào một ông già. Ông ta cao lớn gầy
guộc, có đôi tay bắp thịt đã teo lại nhưng nước da vẫn đỏ đẹp lạ
thường.
- Lão xin chào tướng quân!
Ông già lạ mặt khom lưng vái Trần Bình Trọng. Vốn là người
xưa nay vẫn kính nể những bậc cao tuổi, Trần Bình Trọng vội gạt đi:
- Ông lão cứ đứng thẳng. Làm sao cụ biết ta ở đây mà đến tìm
thế?
- Lão biết có quân về từ lúc tảng sáng nhưng lão vẫn phải dò
lại xem có đích xác không. Bây giờ lão đã nhận đúng là quân triều
đình rồi nên lão xin vào hầu. Dân Xuân Đình cử lão đi trước để xem
có giúp đỡ được tí gì cho quân ta chăng?
- Lão là người Xuân Đình à? Thế dân làng chạy đâu hết rồi?
- Dân Xuân Đình ở cả trong Màn Trò thôi!
Trần Bình Trọng nhìn quanh, vẻ muốn tìm cậu bé chăn ngựa
nhưng chưa thấy cậu về. Ông mỉm cười hỏi:
- Thế làm sao ông lão biết quân ta là quân triều đình?
- Lão biết chứ! Lão nhìn hiệu cờ, hiệu phướn. Đạo quân này là
đô nhất trong quân Thánh dực. Lão còn biết tướng quân chính là
Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng nữa kia.
Trần Bình Trọng kinh ngạc nhìn ông già. Lòng ông phân vân.
Ông già nói tiếp, và lần này đôi mắt của ông ta thoáng ánh lên hóm
hỉnh:
- Hồi cuối năm ngoái, Quan gia bày yến ở điện Diên Hồng.
Quan gia cho gọi bô lão cả nước lên kinh dự. Lão cao tuổi nhất làng
Xuân Đình nên cũng được vời vào. Hôm ấy lão thấy tướng quân cắp
kiếm đứng hầu sau lưng Quan gia...
Nói đến đây, ông già lạ mặt chợt cười để lộ hàm răng chỉ còn
lởm chởm vài chiếc, và chòm râu bù rối của ông ta rung vểnh ngược
lên, nom rất lạ:
- Lúc Quan gia hỏi bô lão xem giặc Nguyên thế mạnh hùng hổ
như vậy thì ta nên đánh hay nên hòa, lão còn nhớ tướng quân gầm
lên trước tiên: “Đánh! Đánh!
Đánh! Xin Quan gia cho đánh!”
Trần Bình Trọng ngượng ngùng ngắt lời:
- Tại ta nơm nớp sợ bô lão dàn hòa, nhưng hòa mà phải cắt
đất, nộp cống, xưng thần thì có khác chi đầu hàng.
Ông già lạ mặt im lặng mến phục vẻ thành thật của Trần Bình
Trọng. Ông tướng Thánh dực hồ hởi nói:
- Ông lão thấy thế nào?
- Đó là vì tướng quân chưa hiểu hết bụng dân đó thôi. Những
bô lão được Quan gia vời vào điện Diên Hồng ăn yến đều là những
người đã từng cầm giáo đuổi giặc trước đây hai mươi bảy năm. Lão
nói thật xin tướng quân đừng giận, chắc vào cái năm Đinh Tị ấy,
tướng quân mới được ba, bốn tuổi chi đó chứ gì?
Kỳ lạ thay, nhận xét thẳng thắn của ông già không làm cho
Trần Bình Trọng giận. Ông nói:
- Ông lão cứ nói hết đi!
Được lời, ông già tiếp:
- Năm ấy bô lão cả nước bàn đánh cũng như tướng quân vậy.
Chắc rằng điều ấy hợp với lòng mong muốn của tướng quân.
Ông già vén tay áo để lộ hai chữ “Sát Thát” thích chàm trên lần
da rám đỏ.
- Lòng lão giá có phanh phui được thì lão cũng xin trình để
tướng quân hiểu thấu cho.
Trần Bình Trọng cảm động:
- Ta hiểu lắm.
- Ông cũng vén lá giáp che cánh tay phải và mở to đôi mắt kiêu
hãnh.
- Ông lão xem đây! Hai chữ “Sát Thát” này đã ăn sâu vào
xương thịt ta rồi.
Ông già nói, vẻ chân thành:
- Lão có một đứa con trai. Trước đây nó đã nói cho lão nghe
nhiều về tướng quân. Lão biết rằng tướng quân ưa lời nói thẳng và
rộng lượng với kẻ dưới. Lão đã già, lại sinh sống ở nơi vắng vẻ. Lão
nói năng nhỡ có điều gì không phải thì xin tướng quân đừng chấp.
Vả chăng, lão nghĩ rằng mua được những lời nói thẳng thật là khó
đấy tướng quân ạ. Thôi hãy gạt chuyện đó ra. Tướng quân cho
phép lão được hỏi điều này: “Có phải Tiết chế đã ra lệnh rút quân
khỏi Vạn Kiếp rồi không?”
Trần Bình Trọng không đáp. Ông cúi đầu xuống tỏ ý chuyện rút
quân là điều có thật. Ông già lạ mặt chăm chú ngắm Trần Bình
Trọng một lát rồi hỏi, giọng nhỏ nhẹ, nghe xa vời như từ đâu vẳng
đến:
- Chắc rằng thế giặc mạnh lắm phải không tướng quân? Mà
Thăng Long cũng mất rồi chăng?
Trần Bình Trọng ngửng vội đầu nhìn qua khuôn cửa lớn. Mặt
ông bỗng biến sắc:
- Khói! Khói! Cháy rồi à?
- Đúng! Cháy rồi đấy. Thăng Long bốc lửa lúc canh ba đêm
qua. Thượng tướng quân Trần Quang Khải đã đem binh qua đây để
rút về phủ Thiên Trường.
- Thế là mất kinh thành rồi! Mất Thăng Long rồi!
Trần Bình Trọng kêu thầm trong lòng: “Mất Thăng Long rồi!
Thăng Long của ta!” ông giận dữ đau đớn nhớ lại kinh thành yêu
quý nơi ghi bao nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ trong cuộc đời của ông. Ông
tưởng chừng như nghe thấy bên tai có tiếng chày đập vải chểnh
choảng trong sương sớm, tiếng chày của những người con gái dệt
vải ở một phường phía bắc kinh thành. Ông nhớ những buổi dẫn
quân Thánh dực ra trường bắn luyện tập; ánh giáp đồng, màu cờ
đỏ, khói pháo lệnh cùng hòa lẫn thành một không khí say sưa. Ông
nhớ đến những đêm cùng các tướng ngồi nghiêm trang trong Giảng
vũ đường nghe Quốc công Tiết chế dạy binh thư.
Ông nhớ những buổi chiều theo hầu Quan gia dạo thuyền trên
sông Cơ Xá. Ông nhớ những đêm đem quân tuần phòng ngoài cửa
Dương Minh trang bóng trăng xanh dịu. Ông nhớ cả những phố
phường đông đúc bên ngoài Hoàng thành, nhớ những cô hàng bán
rượu, nhớ những làng trồng hoa rực rỡ trong tiết xuân...
- Mất Thăng Long rồi! Thăng Long của ta!...
Trần Bình Trọng nghẹn ngào. Từ trong khóe mắt của ông, hai
giọt lệ chảy ra, lăn trên má, rớt xuống vạt áo giáp dát vảy đồng. Ông
già lạ mặt im lặng. Ông già nghĩ thầm trong dạ: “Khóc được như vậy
cũng nhẹ lòng được phần nào!” ông già lựa lời nhủ nhẹ nhàng:
- Giặc chiếm Thăng Long nhưng giặc chiếm thế nào được lòng
người dân Thăng Long. Tướng quân thử nghĩ lại coi. Trước đây hai
mươi bảy năm, Ngột Lương Hợp Thai cũng đã chiếm được Thăng
Long...
- ...Nhưng quân dân ta đã đuổi cổ tướng giặc Ngột Lương Hợp
Thai khỏi Thăng Long...
- Trần Bình Trọng bỗng thốt lên, tình cảm ông như đang bị kích
thích mạnh mẽ.
- Rồi còn đuổi cổ nó ra khỏi bờ cõi nước ta nữa chứ! Bởi vì cả
nước ta đã đấu sức lại mà đánh! Đấy chính là điều quân ta, dân ta
phải ghi lòng tạc dạ. Rút quân khỏi Vạn Kiếp thật là một kế rất sâu.
Trần Bình Trọng lắng dần nỗi đau đớn và cơn giận dữ. Ông
trầm lặng suy nghĩ. Đánh giặc là một việc lớn của đất nước. Người
làm tướng phải biết nhìn xa thấy rộng. Người làm tướng phải biết
dẹp cái nóng của chính mình. Phải biết tính cho đầy đủ mọi bề hơn
thiệt trước khi ra một mệnh lệnh. Nếu như trước đây ông chưa được
đánh trận Bình Than thì sau này ông sẽ được đánh một trận lớn
hơn, thắng to hơn, nằm trong toàn bộ một kế hoạch đã được suy
tính kỹ càng.
Thế đấy, đánh giặc không chỉ bằng sức mà phải bằng trí nữa.
Ông từ từ ngẩng nhìn ông già lạ mặt. Ông khẽ hỏi:
- Ông lão đến tìm ta có điều gì muốn dạy?
- Chết nỗi, lão chẳng dám dạy ai. Lão đến xem quân ta cần gì,
dân Xuân Đình giúp được đến đâu xin cố sức làm đến đấy. Lòng
trăm họ bây giờ như thế cả đó.
- Vậy thì ta cũng nói thật: Quân ta đang đói, và ta cần người
dẫn đường qua bãi lầy Màn Trò.
- Chết thật, lão mải chuyện quá. Lúc lão về làng, dân Xuân
Đình đã xếp sẵn lương ăn xuống thuyền rồi. Bây giờ tướng quân
cho lão ra ới họ một tiếng là họ đem tới ngay.
Nhưng ông già chưa phải gọi tiếng nào, dân Xuân Đình đã
chống thuyền vào bến đầu làng. Họ khiêng lên bãi những thúng
khoai sọ rất to. Trần Bình Trọng sung sướng đi giữa những người
lính của ông ra đón dân làng Xuân Đình. Ông kín đáo mỉm cười
trước sự ngượng nghịu của những người lính trẻ khi nhận thúng
khoai do mấy cô gái quê trao cho. Mấy chục thúng khoai tuy nhiều
nhưng đối với đạo quân hàng ngàn người thì cũng chỉ đủ bữa cháo.
Dân Xuân Đình nói với những người lính con em của mình rằng họ
đã cho đi lấy lương ở trong Màn Trò. Chỉ ngày mai, lương sẽ về đến
nơi. Xuân Đình quyết không để quân bị đói. Dân và lính cùng vui vẻ
nhóm lửa bắc bếp. Khói bốc lên đó đây. Tiếng chuyện trò, tiếng cười
cũng ồn lên đó đây. Trần Bình Trọng và ông già lạ mặt vui vẻ về căn
nhà cũ. Trong mảnh vườn trước ngõ cũng đã có mấy người dân
Xuân Đình đang giúp các chiến sĩ nấu cháo. Trần Bình Trọng đứng
lặng trong căn nhà, lắng nghe những tiếng động bên ngoài. Dân và
lính đang vui đùa trong khi làm việc. Ông chợt mỉm cười khi một
người lính nào đó cất cao lên tiếng hát dân ca đầy kiêu hãnh của
vùng Thiên Mạc: Đất nghịch! Đất nghịch (dô hò) bãi Màn Trò Trống
đồng Thiên Mạc (dô hò) tiếng thúc to Cầm giáo trong hàng (dô hò)
những gia nô
Đừng để ai khinh (dô hò) Quan trung khách Thù nhà nợ nước
(dô hò) máu không sôi. Thù biết trả (dô hò) nợ biết đòi Biển, trời,
đất, nước đời đời của chung.
Ông già kỳ dị làng Xuân Đình đột nhiên biến sắc mặt. Ông già
đã nghe rõ những câu hát về lòng yêu nước và niềm khao khát tự
do của những người nô tì vùng Thiên Mạc.
Chương 3
Trong một buổi sáng đã có hai người nói với Trần Bình Trọng
nhiều điều có ích. Họ chỉ là người lính, người dân bình thường,
nhưng đều đã trải qua nhiều trận chiến đấu gay go. Họ đã làm cho
Trần Bình Trọng vui lòng và tin rằng họ sẽ làm tròn những công việc
ông giao cho. Kể từ khi đất nước có giặc xâm lược,
Trần Bình Trọng đã mắt thấy tai nghe nhiều sự việc chứng tỏ
tài năng và lòng yêu nước của những người không phải dòng dõi
quý tộc. Ông đã được thấy những người lính bình thường lăm lăm
ngọn giáo ngắn trong tay, xông thẳng tới trước những tên tướng
Nguyên và dùng ngọn giáo ngắn ấy đánh ngã tướng giặc cưỡi trên
lưng những con ngựa cao lớn. Ông đã từng giao nhiều việc quân
cho những người lính của mình.
Có những việc, người được giao làm đều biết chắc rằng mình
một đi là không trở lại. Nhưng họ đều nhận lệnh với một vẻ kiêu
hãnh khác thường. Ông cũng đã từng thấy những người lính của
mình nạo vết thương cho nhau. Không một tiếng rên la, không một
lời than vãn. Có một lần, một chiến sĩ của ông bị dao chém sả cánh
tay. Lưỡi dao phạt mất mảng thịt mang hai chữ “Sát Thát” thích
chàm. Người lính đã chìa cánh tay có vết thương cho bạn buộc hộ
và lại sẵn sàng giơ tay còn lại cho người bạn khác thích hai chữ “Sát
Thát” mới... Những tháng chiến đấu trên biên thùy phía bắc đã khiến
Trần Bình Trọng biết đánh giá một con người trên những mặt nào.
Và ông cũng biết tự mình tìm hiểu mình. Cho nên, lo cho quân bắc
bếp xong, Trần Bình Trọng dẫn ông già Xuân Đình lên trên đê cao
xem thế đất. Ông hỏi nhiều câu mà trước đây không bao giờ ông đặt
ra với những người không mang ấn phong hầu như ông. Những câu
hỏi- đáp nối tiếp nhau đã chứng tỏ bài học lượm được trong cuộc
đời mang lại cho Trần Bình Trọng khá nhiều bổ Ích. Ông già làng
Xuân Đình chẳng những giảng giải cho
Trần Bình Trọng nghe rất kỹ về thế đất vùng Thiên Mạc, mà
ông ta còn nhận xét rất đúng phép dùng binh: với thế đất như thế,
cách bày trận sẽ phải ra sao.
Ông ta nói:
- Dải cát sa bồi này chạy dài tít tắp, không rõ đâu là bến bờ.
Mặt trước bãi cát là con sông Thiên Mạc rộng mênh mông. Mặt sau
lưng nó là bãi lầy Màn Trò ăn mãi vào sâu hàng trăm dặm. Chỗ
chúng ta đứng đây là địa thế làng Xuân Đình. Xuân Đình ở đầu bãi
lầy Màn Trò, nhưng cũng ở đầu dải cát sa bồi. Từ trước đến nay, ai
cũng cho rằng trong bãi lầy không có người ở. Giặc Nguyên hơn ta
về quân cưỡi ngựa, ta giỏi hơn chúng về tài đánh trên sông. Nếu
như trận đánh xảy ra ở đây, giặc sẽ tránh giao chiến trên sông Thiên
Mạc với ta. Chúng sẽ rút lên dải cát sa bồi này, lập thế trận dựa lưng
vào bãi Màn Trò để quyết chiến với ta trên vùng đất khô ráo quen
với vó ngựa của chúng.
Trần Bình Trọng suy nghĩ về lời nói của ông già:
- Có phải ông lão cho rằng tướng giặc sẽ lấy dải cát sa bồi này
làm đất quyết chiến không?
- Chính vậy đấy! Nhưng ta có cách buộc chúng không thể
quyết chiến ở đây mà phải chịu những đòn ta đánh ở chỗ khác và ở
những hướng, khác với ý muốn của chúng.
- Ông lão nói nốt đi! - Trần Bình Trọng giục, rõ ràng câu chuyện
đã khiến ông thật sự quan tâm.
- Đây nhé! Tướng quân xem, chúng muốn đổ quân lên bộ cũng
phải dùng những bến thuyền này. Bởi vì ở đây bờ sông thấp, lại có
những vụng nhỏ tránh được sóng gió. Nhưng chúng không bao giờ
nghĩ rằng chúng có thể bị đánh từ cửa Hàm Tử trở xuống, vì rằng
bên kia cửa Hàm Tử là bến Chương Dương thẳng đường về Thăng
Long, giặc sẽ dễ dàng ra cứu.
Trần Bình Trọng khen thầm. Ông khẽ gật đầu và giơ tay chỉ về
phía Màn Trò hỏi tiếp:
- Ông lão định phục binh trong đó để đánh vỗ vào lưng quân
giặc phải không?
- Ấy là nếu lão cầm quân, chứ lão đã trên bảy mươi tuổi đầu rồi
và cũng chẳng ai bái lão làm tướng. Nhưng nếu lão cầm quân, lão
sẽ bày trận như vậy đó!
Gương mặt Trần Bình Trọng rạng rỡ hẳn lên. Ông nói to với
ông già Xuân Đình:
- Ông lão nói rất đúng. Ta cũng sẽ phục quân trong Màn Trò.
Như thế, nếu giặc phải giao chiến trên sông Thiên Mạc hay trên bãi
sa bồi này chúng đều phải đánh trên thế đất chết của chúng. Binh
pháp cũng nói như vậy đấy!
Ông già Xuân Đình nhận lời khen một cách im lặng. Ông ta kín
đáo nhìn Trần Bình Trọng với một vẻ quý mến. Trần Bình Trọng nói
tiếp:
- Nhưng ngặt vì quân ta tuyển dân binh phía bắc lộ Khoái nên
chẳng có người thông thạo thế đất Màn Trò. Ông lão chưa trả lời ta
xem có tìm được người dẫn đường không.
- Chính để trả lời câu hỏi đó mà lão nói về thế đất của cả vùng
Thiên Mạc này. Biết rõ Màn Trò, trị được Màn Trò nay chỉ còn có lão
mà thôi. Chả là vì lão quanh năm ngày tháng cứ lặn lội trong cái bãi
lầy ấy mà. Cũng vì vậy mà người vùng này quen gọi lão là ông già
Màn Trò.
Ông già cở...
 





