TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    THÔNG BÁO

    LỊCH PHỤC VỤ MƯỢN TRẢ

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg VietNamtrongDNA.jpg Luoc_do_dia_hinh_Viet_Nam1jpg.jpg Luoc_do_cac_khu_vuc_Chau_A.jpg GIAOTHONGTPHCMMAU3.jpg TG07.jpg 1.jpg

    VIDEO TƯ LIỆU HỌC TẬP

    💕💕MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN ẤT TỴ NĂM 2025💕💕 KÍNH CHÚC QUÝ BẠN ĐỌC NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG 💕💕

    Video hoạt động của Trường THCS Nguyễn Du - Bắc Trà My

    Pari Sài Gòn Hà Nội

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 19h:35' 14-04-2024
    Dung lượng: 1.4 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Paris – Saigon - Hanoi
    Philippe Devillers
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    Table of Contents
    PARIS - SAIGON - HANOI
    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    LỜI TỰA
    LỜI GIỚI THIỆU
    NHẬN THỨC MUỘN MÀNG VỀ MỘT CUỘC CHIẾN TRANH
    I. VIỆT NAM MỘT NỒI HƠI KHÔNG CÓ XU-PAP (CHO ĐẾN 1930)
    II. MỘT CHÍNH QUYỀN MONG MANH, NHỮNG KẺ KẾ THỪA SỐT RUỘT (2/1930 - 9/3/1945)
    III. NƯỚC VIỆT NAM GIÀNH LẠI QUYỀN ĐỘC LẬP (10/3 - 2/9/1945)
    IV. ĐỐI ĐẦU VÀ ĐỀ NGHỊ (2/9 - 30/10/1945)
    V. HÀ NỘI VÀ SÀI GÒN BỊ DỒN VÀO THẾ PHẢI LỰA CHỌN (8/10/1945 - 13/02/1946)
    VI. MỘT SỰ UỐN NẮN DIỆU KỲ: HIỆP ĐỊNH 6/3/1946 (14/2 - 18/3/1946)
    VII. SÀI GÒN, ĐIỂM THẮT NÚT CỦA VẤN ĐỀ (7/3 - 19/6/1946)
    VIII. FONTAINEBLEAU HAY LÀ CUỘC TRƯỜNG KỲ THƯƠNG LƯỢNG (22/6 - 19/9/1946)
    IX. LÀM SAO VÔ HIỆU HÓA ĐƯỢC HÀ NỘI? (21/9 - 13/11/1946)
    X. HẢI PHÒNG: MỘT KHÚC NHẠC DẠO ĐẦU (8 - 30/11/1946)
    XI. HỒ CHÍ MINH CHỜ THỜI (30/11 - 12/12/1946)
    XII. ĐẢO CHÍNH HỤT TẠI HÀ NỘI (10 - 25/12/1946)
    XIII. CUỘC ĐOẠN GIAO VÀ HUYỀN THOẠI CỦA NÓ (20/12/1946 - 16/1/1947)
    XIV. VIỆT NAM - TỪ CẤM (4/1 - 23/3/1947)
    XV. VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH (23/3/1947 - 4/1956)
    LỜI BẠT CỦA DỊCH GIẢ
    NGUỒN TƯ LIỆU GỐC VÀ THƯ MỤC
    Chú Thích

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Philippe Devillers là một nhà sử học Pháp có uy tín, chuyên nghiên cứu lịch sử hiện đại khu vực
    Đông Nam Á. Ông đã có mặt ở Việt Nam vào lúc cuộc chiến tranh Việt - Pháp xảy ra và đã viết
    nhiều cuốn sử về Việt Nam.
    Cuốn Paris - Saigon - Hanoi, nhà xuất bản Gallimard, Paris, in năm 1988, là kết quả của hàng
    chục năm nghiên cứu tìm tòi của ông, nhằm xác định nguyên nhân chính xác của cuộc chiến
    tranh Đông Dương là do đâu? Nếu từ những năm đầu của cuộc chiến tranh này, ông đã có
    những giả thiết sắc sảo, nhưng chưa đủ tư liệu để chứng minh, thì năm 1987, những kho lưu
    trữ tư liệu mật của các Bộ Ngoại giao, Pháp quốc Hải ngoại, Quốc phòng... của Pháp, khép kín
    ba mươi năm liền, nay đã được mở cửa. Những tư liệu quý giá này đã xác minh những giả thiết
    của ông là đúng: Cuộc chiến tranh Đông Dương đã xảy ra “không phải do ngẫu nhiên, mà do tội
    lỗi, do sự “vụng về” hoặc “tính toán sai lầm” của một vài người mà sự xảo trá hai mặt và cái
    nhãn quan “cận thị” chưa từng có trong lịch sử nước Pháp. Một cánh nhỏ những quan chức và
    nhà quân sự cao cấp Pháp đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa nước Việt Nam và nước
    Pháp”.
    Ngoài sự phong phú và chính xác về tư liệu, cuốn sách được trình bày rõ ràng, lôgic và gọn,
    phản ánh một mức độ hiểu biết sâu rộng, một ý thức tích cực bảo vệ sự công bằng, chân lý lịch
    sử, đồng thời sự trung thực thẳng thắn trong những mối bang giao quốc tế Việt - Pháp. Cuốn
    sách còn thể hiện một tinh thần nhân đạo, sáng suốt đấu tranh chống chiến tranh, củng cố hòa
    bình, hữu nghị và hợp tác giữa hai nước Pháp và Việt Nam...
    Những việc làm của chính phủ và nhân dân Pháp ngót ba mươi năm nay nhằm giúp Việt Nam
    xây dựng lại đất nước và đặc biệt là cuộc đi thăm “xóa bỏ hận thù” của Tổng thống Pháp Fr.
    Mitterrand đến Việt Nam tháng 2/1993 phải chăng đã là sự diễn đạt cụ thể cái ước vọng lớn và
    đẹp mà tác giả đã kín đáo gửi gắm vào trong cuốn sách của mình, đồng thời là ước vọng lớn và
    đẹp của nhân dân hai nước Pháp và Việt Nam từ bấy lâu nay?
    Paris - Saigon - Hanoi là cuốn sách của một tác giả người nước ngoài viết, căn cứ trên những
    nguồn tư liệu mà tác giả thu thập được trong 40 năm, và những tư liệu chính thức của các Kho
    Lưu trữ của nước Pháp. Những lời lẽ, những nhận định - in chữ nghiêng trong ngoặc kép nhiều chỗ mang tính chất vu khống và xuyên tạc, là trích nguyên văn từ các bản báo cáo, các
    bức điện, các chỉ thị. các mệnh lệnh và kế hoạch, các biên bản những cuộc đối thoại... của
    những D'Argenlieu, Pignon, Valluy nhằm biện hộ cho những âm mưu và hành động chiến tranh
    xảo quyệt của chính họ.
    Những tư liệu được sử dụng trong sách nói chung là mới, phong phú, chính xác, tuy nhiên, có
    thể cũng còn những chỗ bị hạn chế về tính khách quan. Ở mỗi chương trong sách đều có nhiều
    ghi chú, nhưng theo đề nghị của tác giả, dịch giả chỉ dịch một số ghi chú quan trọng nhất.
    Những ghi chú còn lại được để nguyên bằng tiếng Pháp ở cuối sách. Xuất bản cuốn sách này,
    chúng tôi mong muốn cung cấp cho bạn đọc những thông tin tham khảo trong việc nghiên cứu
    về cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, đã gây ra cho nhân dân ta biết bao tổn thất
    máu xương, nhưng cuối cùng, bằng chính nghĩa, nhân dân ta đã chiến thắng vẻ vang.
    Cuốn sách đã được xuất bản lần đầu, năm 1993, với sự hỗ trợ tài chính đáng quý của Tổng
    Lãnh sự quán Pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh và đã nhận được sự đón tiếp rất nồng nhiệt của
    các bạn đọc. Theo đề nghị của nhiều đối tượng bạn đọc, đặc biệt ở miền Bắc - mà lần đầu sách
    không kịp tới nơi - chúng tôi cho tái bản cuốn
    Paris - Saigon - Hanoi nhằm đáp ứng nhu cầu nghiên cứu và giảng dạy của các bạn giáo viên,
    sinh viên và những bạn đọc quan tâm đến lịch sử nước nhà. Ngoài mục đích đó ra, cuốn sách

    tái bản còn mang một ý nghĩa đẹp khác là phát huy và củng cố tinh thần hiểu biết, hữu nghị và
    hợp tác ngày càng chặt chẽ giữa hai nước Pháp và Việt Nam trong bối cảnh hòa bình ngày càng
    được củng cố.
    Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM


    LỜI TỰA
    (Cho lần xuất bản thứ nhất)
    Băn khoăn giữa một bên là ý thức tôn trọng sự thật và một bên là những tình cảm yêu nước
    thúc đẩy mình phải đồng tâm nhất trí với đồng bào, một nhà sử học Pháp làm sao có thể phân
    tích được một cách khách quan và sâu sắc một cuộc chiến tranh đã đối lập, từ 1945 đến 1954,
    hai đất nước mà với mình đều rất thân yêu, là nước Pháp và nước Việt Nam.
    • Độc giả sẽ là người phán xử.
    Mặc dầu trải qua một quá khứ nặng nề được đánh dấu bởi một cuộc chinh phục tàn nhẫn, rồi
    sau đó là một nền thống trị thực dân, hai dân tộc chúng ta, mà số phận đã đi ngược chiều nhau
    như vậy, vẫn có một vài lý do chính đáng để tin rằng chúng ta vẫn có những điểm rất tương
    đồng và mối quan hệ giữa hai bên một ngày kia có thể là mối quan hệ có nhiều chất lượng. Sau
    cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, đã xuất hiện một cơ hội rất thuận lợi cho một sự khởi đầu
    mới, vì nước Pháp vừa tự giải phóng khỏi ách xâm lược Đức chắc chắn có thể hiểu đúng đắn
    hơn nguyện vọng tự do và độc lập lúc này đang làm sôi động cả dân tộc Việt Nam.
    Năm 1946, chúng ta suýt nữa đã hiểu nhau và thỏa thuận được với nhau. Chỉ cần một chút nữa
    thôi là chúng ta đã có thể có được không phải một “thỏa hiệp” hay một “tạm ước” mà văn bản
    một sự liên kết, hơn thế nữa, một sự đồng minh giữa hai dân tộc tự hào và tự do, trong khuôn
    khổ một tổng thể mà hai bên sẽ cùng nhau quy định. Lỡ mất bao nhiêu cơ hội tốt. Độc giả sẽ
    không quên nêu lên những cơ hội bị bỏ lỡ đó: tháng 8, tháng 9, tháng 12/1945, tháng 3-4 rồi
    tháng 9-1946. Sự thỏa thuận đã ở ngang tầm tay rồi, bởi vì những điểm bất đồng lúc đó nếu ta
    lùi lại một chút trong thời gian mà nhìn, thì về căn bản hoàn toàn không đáng kể. Sau cuộc nổ
    bùng cuối 1946 mà khâu ráp lại thì khó khăn hơn nhiều, có thể nói là bất khả; nhưng những cơ
    hội khác để ngăn cản cuộc chiến tranh xảy ra đã bị mất đi, đó là chưa kể cơ hội để nối lại quan
    hệ đôi bên vào cuối năm 1954.
    Chính là vào tháng 11/1945 bắt đầu mối quan hệ cá nhân tôi với nước Việt Nam, một đất nước
    mà dù đã 25 tuổi tròn thực tế tôi chưa hề hiểu biết gì về nó cả. Phải mất vài tháng tôi mới bắt
    đầu tìm hiểu được phong cảnh (sông núi, ruộng đồng), những con người và nguyện vọng của
    họ. Quả đây là một “tiếng sét” có tác dụng thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi. Nhưng chỉ dần dần
    tôi mới hiểu được lịch sử của nó và những gốc rễ của cuộc chiến tranh đã một lần nữa đối lập
    hai nước chúng ta và chỉ có thể hiểu đúng một khi nó được đặt lại vào một hướng nhìn thông
    suốt.
    Tôi về Pháp được ít lâu thì chiến tranh xảy ra. Từ đó, tôi luôn luôn tìm cách làm sáng tỏ những
    nguyên nhân nào đã dẫn chúng ta, người Pháp và người Việt Nam, đến cuộc chiến tranh ngay
    giữa thế kỷ XX này và sau những cuộc hội đàm đầy hứa hẹn như vậy.
    Tôi đã may mắn có mặt tại Việt Nam trong cái năm thắt nút của tấn bi kịch và ở những chức vị
    cho phép người ta có được một cái nhìn tổng quát và những thông tin từ mọi nguồn quy về.
    Đến Sài Gòn với tướng Leclerc và nhóm cộng sự của ông mà thiện chí hòa bình thực tình là
    gương mẫu, tôi đã tiếp thu được cái phương pháp và cái tính hợp lý trong cách họ hành động
    và kết luận: đối với cả hai bên, hòa bình là giả thiết duy nhất có giá trị. Tất cả những điều đã
    được nói lên tại cuộc Hội nghị Đà Lạt lần thứ nhất ngay sau Hiệp định mồng 6 tháng 3/1946,
    đã chứng minh khả năng thực tế của một sự thỏa hiệp, miễn là hai bên đều chứng tỏ thiện chí
    và hiểu biết của mình, dĩ nhiên, nhưng trước tiên là có óc thực tế và cái nhìn khoáng đạt về
    tương lai. Và nếu Fontainebleau không cụ thể hóa được những niềm hy vọng ấy thì đó là do
    những nguyên nhân riêng của người Pháp: lúc này điều lo lắng mang tính chất duy lý của họ là
    phải hoàn thành trước tiên trên giấy trắng mựe đen, một lâu đài hoàn hảo về mặt pháp lý đã,

    lâu đài đó là Liên hiệp Pháp. Nhưng một khi chân trời phía đó đã sáng sủa lên rồi thì phải nối
    lại những cuộc đàm phán chỉ tạm ngừng, vào tháng giêng năm 1947.
    Chẳng bao lâu sau đã xảy ra những sự kiện Hải Phòng (tháng 11), rồi Hà Nội (tháng 12). Thế là
    chiến tranh, và chiến tranh bảy năm ròng. Tại sao?
    Tại sao Việt Minh đã tấn công ngày 19 tháng 12? Tại sao quân Pháp đã chuẩn bị một cuộc “đảo
    chính”? Tại sao họ đã tạo điều kiện cho Việt Minh tấn công mình để họ có thể trả đũa một cách
    quyết định? Trong lịch sử ngắn ngủi của nền Đệ tứ Cộng hòa, ít có vấn đề nào đè nặng lên hơn
    là vấn đề chiến tranh Đông Dương. Cuộc xung đột nẩy sinh từ trong tình huống lập lờ hai mặt
    và đã hoàn toàn có khả năng tránh được, đã phát triển lên sau 1946 như một bệnh ung thư
    gặm mòn dần cơ thể của nước Pháp đang trong thời kỳ dưỡng bệnh.
    Về mặt tài chính, nước Pháp đã ngốn vào đó số tiền tương đương với số tiền Hoa Kỳ viện trợ
    cho nó (trong khuôn khổ Kế hoạch Marshall) và do đó mà ngay tức thời bị chậm trễ so với các
    nước láng giềng châu Âu của mình. Nó đã bị thiệt hại nặng nề về người, về của và cuộc sống
    chính trị của nó đã bị đầu độc vì những vụ “xcăngđan” vang dội gắn liền với cuộc chiến tranh
    này. Sau đó nền Đệ tứ Cộng hòa đã không hồi phục nổi.
    Đối với người Pháp, cần phải biết rõ ai là người phải chịu trách nhiệm gây ra tai họa này. Kể cả
    dù khi cuộc tấn công của tự vệ quân ở Hà Nội có là một sai lầm khủng khiếp của Việt Nam đi
    chăng nữa, thì đó đâu phải là một trong những hành động vô phương cứu chữa dẫn đến sự cắt
    đứt hoàn toàn các quan hệ ngoại giao giữa hai dân tộc chúng ta? Từ đó, người ta còn thấy
    những cuộc tấn công khác. Thế nhưng toàn bộ cuộc chiến tranh lại được trình bày như một sự
    “trả đũa lại một cuộc tấn công quỷ quyệt của Việt Minh” và cuộc trả đũa đó đã được tiến hành
    một cách thích đáng. Vậy mà, mặc dù ngay từ đầu, người ta đã thấy lời giải thích chính thức
    này quả đáng nghi ngờ, nó vẫn cứ được giới chính trị và dư luận công chúng chấp nhận chẳng
    gặp chút gì gọi là khó khăn.
    Những điều nghi ngờ mà tôi đã phát biểu về cuộc chiến tranh ngay từ 1947 đến năm 1953 đã
    biến thành “giả thuyết nghiên cứu”. Tôi tự hứa với mình sẽ thu xếp sao cho mình đừng vội
    chết trước khi rọi được ánh sáng vào cái năm 1946 ấy. Tôi đã phải đợi chờ rất lâu ngày mở cửa
    các kho lưu trữ công cộng của nước Pháp và một vài bộ sưu tập giấy tờ ghi chép của tư nhân để
    tiếp tục cuộc tìm tòi tra cứu của tôi. Nhưng từ hàng ngàn tư liệu tôi tham khảo, tản mạn trong
    nhiều kho sách và từ hàng trăm bộ hồ sơ, cũng không thể làm bật ra được sự thật của lịch sử
    nếu cái trí nhớ của một chứng nhân nho nhỏ là tôi lúc đó không mang đến cho một sợi dây dẫn
    điện, một thứ trực giác nào đó về cái thực chất màn kịch mà các diễn viên đã đóng trước đây.
    Thực tình, sự đối chứng nhiều nguồn như vậy chỉ có thể thực hiện được bởi một người đã từng
    sống qua toàn bộ sự việc từ bên trong của nó. Và cứ thế, một cách kiên trì và nhẫn nại, lịch sử
    đã được tái hiện lên gần như trọn vẹn, ít ra về phía Pháp. Độc giả sẽ thấy được liên kết lại trong
    một bản tường thuật những văn bản thiết yếu biểu hiện chính sách của nước Pháp tại Việt
    Nam và khẳng định giả thuyết nghiên cứu của tôi là đúng; đó là: cái bộ ba D'Argenlieu - Pignon
    - Valluy sau khi đã cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng, đã cố tình gây ra cuộc xung đột nhằm loại bỏ ông
    Hồ Chí Minh và Việt Minh trước khi nối tiếp lại những cuộc đàm phán đã dự định; vì họ sợ kết
    quả sẽ “tồi tệ” hơn nữa: sợ Chính phủ Pháp bỏ Đông Dương.
    Và kết quả là chiến tranh, cuộc chiến tranh Đông Dương của Pháp (7 năm), rồi đến cuộc chiến
    tranh Việt Nam của Mỹ (13 năm), bởi vì Washington và phương Tây đã chấp nhận quan điểm
    của Pháp. Trường hợp bất thường về việc thông tin bị xuyên tạc ấy cũng là một trong những
    trường hợp mang lại những hậu quả nghiêm trọng bậc nhất.
    Quá khứ là quá khứ và vẫn mãi mãi là quá khứ; nhưng người ta không thể không biết đến nó,
    cũng không thể quên nó hoặc che giấu nó được.
    Ngày nay trên toàn thế giới cái “nhiệm vụ nhớ lại” được coi như là một đòi hỏi cấp bách. Và
    phải viết để cho các dân tộc và để tránh đừng để cho những bản “in thử”, từ thế hệ này qua thế

    hệ khác bị chìm đi trong quên lãng. Trong hoàn cảnh này, điều tôi quan tâm chỉ là làm sáng tỏ
    sự thực dù rằng đối với một số người nó không lấy gì làm mát dạ và êm tai cho lắm. Phải làm
    sao để nhờ những tài liệu đích xác và chân thực mà, người Pháp và cả những người khác nữa
    cùng hiểu được “sự việc đã xảy ra như thế nào”, và xác định đúng những ai giữa chúng ta đã
    biết nhìn sáng suốt và những ai đã dẫn nước Pháp đi vào con đường tai họa.
    Một bản tường thuật như vậy liệu có đánh thức dậy trở lại những con quỷ dữ và những mối hận
    thù xưa chăng? Độc giả hẳn đã thừa biết rằng trong chính trị chẳng có điều gì là giản đơn và
    trước tiên là nên thận trọng, đừng khái quát hóa. Trong bất cứ cộng đồng nào cũng đều song
    song tồn tại những con người ưu tiên dùng đối thoại, thảo luận, thỏa thuận và những kẻ thiên
    về dùng sức mạnh để giải quyết nói chung mọi vấn đề. (“Quyền lực ở đầu mũi súng” - có người
    nào đó đã nói như vậy).
    Ngay từ cuối năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu nhân dân Việt Nam phải tập phân
    biệt giữa những người Pháp: một bên là thực dân đế quốc và một bên là những người dân chủ
    tin tưởng một cách chân thành vào các giá trị của tự do, công bằng, bác ái và hành động đi đôi
    với lòng tin. Người ta biết sự quý trọng của Hồ Chủ tịch đối với tướng Leclerc và không bao giờ
    Người nghi ngờ đến tấm lòng chân thực của ông. Nhưng giữa năm 1946, ngay lúc tình hình
    đang căng thẳng, làm sao người ta có thể thực hiện được sự phân biệt nói trên?
    Vả lại thời kỳ đó Việt Minh đang gợi lên cho người Pháp một hình ảnh như thế nào về nước
    Việt Nam?
    Bất hạnh đã đến, không phải do “nước Pháp”, mà do một nhóm nhỏ khá xảo quyệt hành động
    trong “bóng tối và bí mật” và không được kiểm soát cẩn thận. Sau đó, Chính phủ Pháp không
    muốn lên án chúng nên đã thi hành trong nhiều năm, vẫn trong bí mật, một chính sách mà lịch
    sử ngày nay lên án. Nhưng trong thực tế, dư luận công chúng Pháp, do thiếu phương tiện
    truyền thông mà chưa bao giờ được thông tin đầy đủ về những dữ kiện có thực của vấn đề Việt
    Nam, đã bị lừa phỉnh và bị uốn nắn một cách có hệ thống; chỉ đến khi thất bại đã gần kề rồi nó
    mới được thức tỉnh đôi chút.
    Bóng tối của quá khứ không nên đầu độc cuộc sống. Giữa người Pháp và người Việt Nam, xưa
    kia là thù địch của nhau, vẫn có một tương lai cho tình hữu nghị và cho những cuộc trao đổi về
    mọi mặt, kể cả sự hợp tác. Không lẽ hai dân tộc lại cứ phải trả giá vô thời hạn cho những lỗi
    lầm của một vài người cách đây nửa thế kỷ hay sao?
    Nhưng mà tương lai chỉ có thể xây dựng trên cơ sở sự thật. Để chúng ta có thể đi một cách lành
    mạnh, thẳng thắn và không có ẩn ý, vào những cuộc trao đổi có hiệu quả, cả hai bên chúng ta
    cần phải hiểu biết kỹ càng lịch sử các mối quan hệ bang giao của chúng ta và, muốn làm được
    như vậy, phải khắc phục những nỗi ân hận đắng cay, nhận lấy không tránh né những trách
    nhiệm đối với nhau.
    Lịch sử chân thực là kết quả của một sự đối thoại. Cuốn sách này giới thiệu với nhân dân Việt
    Nam bản “thuật lại bằng tiếng Pháp có sửa chữa” về những căn nguyên của cuộc chiến tranh
    của chúng ta. Giờ đây là lúc các nhà sử học Việt Nam - mà tôi chân tình cảm ơn đã có sáng kiến
    dịch và xuất bản cuốn sách này - có nhiệm vụ đóng góp phần mình vào để cho chân lý được
    biểu hiện một cách hoàn toàn trọn vẹn.
    Chúng ta, những nhà sử học, ai cũng phải “xứng đáng với lòng tin cậy” của nhân dân, và giúp đỡ
    nhân dân làm cái “nhiệm vụ nhớ lại” của mình, để hiểu rõ cha ông ta đã sống như thế nào,
    nhưng cũng để hiểu thêm lịch sử, những động cơ, những quan điểm của người khác nữa.
    Ngày 16 tháng 7 năm 1993
    Ph. Devillers[1]



    LỜI GIỚI THIỆU
    (Cho lần xuất bản thứ nhất)
    Quyển Paris - Saigon - Hanoi. Tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944-1947, xuất bản tại
    Paris năm 1988, của nhà nghiên cứu sử học Philippe Devillers[2], do nhà khảo cứu văn học
    Hoàng Hữu Đản, người có nhiều cống hiến trong việc dịch những tác phẩm từ tiếng Pháp sang
    tiếng Việt để giới thiệu nền văn học Pháp, đã công phu biên dịch để giúp các nhà nghiên cứu sử
    học nhìn trở lại, về phía Pháp, những năm trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945, dẫn
    đến cuộc chiến tranh mà giờ đây ai cũng hối tiếc. Đúng như lời tướng De Gaulle sau này trong
    bức thư ngày 8/2/1966 viết cho Hồ Chủ tịch có nói: “Giá có một sự hiểu biết nhau tốt hơn giữa
    người Việt Nam và người Pháp ngay sau chiến tranh thế giới lần tứư hai thì đã có thể tránh
    được những sự biến tai hại đang giằng xé đất nước Ngài hôm nay”.
    Nhưng dù sao cũng phải nhấn mạnh rằng đối với mọi người hôm nay, như tác giả đã viết: “Việt
    Nam là một trong những tấn bi kịch lớn của thế kỷ XX” và giờ đây “các tài liệu lưu trữ đã chứng
    minh cuộc chiến tranh Đông Dương... không phải do ngẫu nhiên, mà do tội lỗi, do sự “vụng về”
    hoặc “tính toán sai” của một vài người mà sự xảo trá hai mặt và cái nhãn quan “cận thị” chưa
    hề có trong lịch sử nước Pháp. Một cánh nhỏ những quan chức và nhà quân sự cao cấp Pháp đã
    châm ngòi cho cuộc chiến tranh giữa nước Việt Nam và nước Pháp và đây thực tế quả nhiên là
    “một hành động vũ lực đã được mưu tính từ nhiều tháng…”, thất bại đã biến tướng thành một
    cuộc chiến tranh dai dẳng mà chính những kẻ gây ra đã làm đủ mọi cách để ngăn cản sự chấm
    dứt”.
    Philippe Devillers là một nhà sử học, một chuyên gia của Pháp về lịch sử hiện đại Việt Nam, là
    người với nhiều chức vụ đã có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với những sự việc trước và sau
    chiến tranh Pháp - Việt. Ông vừa là một nhà báo, một nhà sử học nên không thể làm ngơ trước
    những sự kiện lớn lao đang diễn ra trước mắt ông, trước tiên là đối với bọn giả mạo, nói theo
    lời của nhà văn hóa Peguy, và đặc biệt là những trò giả dối đối với một dân tộc và những người
    đại diện của nó mà ông rất có cảm tình và kính phục.
    Tất nhiên, đối với nhà sử học dấn thân, trước tiên ông đã mạnh dạn đi vào “hậu cung” - phía
    sau sân khấu chính trị chính thức - để viết và cho xuất bản từ năm 1952 quyển sách đầu tiên về
    cuộc chiến tranh với tựa đề “Lịch sử Việt Nam 1940-1952”, nhưng tất nhiên những điều kiện
    lúc bấy giờ chưa cho phép một nhà sử học phân tích rõ ràng trách nhiệm của những người cố
    tình gây chiến vì lý do mà ông đã giãi bày: “Lúc bấy giờ, không thể nào đi thêm một bước nữa
    mà không gặp nguy cơ bị nghiến nát một cách vô ích”. Và đến nay thì hoàn cảnh và môi trường
    đã cho phép để “Tìm ra những người chịu trách nhiệm” về cuộc chiến tranh.
    Và đúng như tác giả đã viết để phân minh về sự “nhận thức muộn màng về một cuộc chiến
    tranh” là kết quả của “một công trình kiên trì tìm tòi bất chấp mọi trở ngại, bốn mươi năm sau
    mới cho phép có được cái nhìn tổng quát về sự kiện, nêu được những manh mối thực và thực
    hiện được những tiếp cận cần thiết”.
    Quyển sách chia làm 15 chương (hay đề mục) với khối lượng lớn về tư liệu lưu trữ và trong bản
    tiếng Pháp, tư liệu lưu trữ được in bằng chữ “đứng” và lời bình của tác giả in bằng chữ
    “nghiêng”. Để giúp thêm cho người đọc, trong bài giới thiệu này, chúng tôi chỉ lấy những mốc
    quen thuộc với chúng ta, liên quan tới thời cuộc từ trước năm 1945 đến khi cuộc chiến bùng
    nổ; 1945: Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
    hòa; 1946: Hiệp định sơ bộ 6 tháng 3; Tháng 12, chiến tranh bùng nổ.
    Trong các chương 1 và 2, thời gian trước Cách mạng tháng Tám 1945, tác giả gợi lại quan điểm
    của những người Pháp thuộc địa về cái gọi là “bản anh hùng ca thuộc địa”, với một nước Việt

    Nam “đẹp, bình yên, hiền hòa”, nơi mà “người Pháp có thể đi dạo chơi một mình không cần
    mang vũ khí, suốt từ đầu nọ tới đầu kia của đất nước”, họ hãnh diện với “một sứ mệnh khai
    hóa văn minh”. Tất nhiên cũng có một vài vụ “lộn xộn”, những cuộc bạo động, nhưng họ xem
    đó là những “cuộc nổi dậy của nông dân”, loại như kiểu ở Pháp gọi là jacqueries, tất nhiên cũng
    có những vụ bạo động từ năm 1930, nhưng rồi đều bị dập tắt. Nhưng với cuộc chiến tranh thế
    giới lần thứ hai bùng nổ, nước Pháp bại trận và nước Nhật “bước vào sân khấu” ở Đông Dương,
    các nước Đông Dương rơi vào quỹ đạo của Nhật cho đến ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật làm
    đảo chính và trong một đêm, trên “toàn cõi Đông Dương, quân đội Nhật hành động..., các
    doanh trại Pháp đều bị tiến công và phần lớn đều bị vô hiệu hóa”. Và ngày 10 tháng 3 năm
    1945, tức là ngày hôm sau, “quân Nhật nhận lấy trách nhiệm điều hành công việc hành chính
    cả nước”.
    Ngay trong chiến tranh, tác giả có nói đến “một tín hiệu” do lãnh sự Pháp tại Côn Minh (Trung
    Quốc) gửi cho đại sứ Pháp bấy giờ ở Trùng Khánh báo cáo chi tiết về cuộc tiếp xúc vào ngày
    29/4/1944 với hai đại diện tự xưng là đại diện của Đông Dương độc lập đồng minh và sự kiện
    này được báo ngay về Alger cho đại diện của chính phủ kháng chiến Pháp De Gaulle.
    Chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đoạn kết thúc, chính phủ kháng chiến De Gaulle
    được chuyển về Paris và ngày 24/3/1944 Paris tuyên bố khẳng định quyền lực của Pháp ở
    Đông Dương, đồng thời chuẩn bị về chính trị và quân sự cho việc trở lại Việt Nam. Từ đó những
    nơi tập trung, những cứ điểm có đại diện của Pháp gần với Đông Dương như Calcutta (nơi có
    đại diện của Pháp) và Côn Minh (nơi có đội đặc nhiệm 5) lại nhộn nhịp lên, nhưng giữa hai nơi
    này có những bất đồng với Paris. Ở Côn Minh, những nhân vật như Sainteny, Alessandri đã
    nhìn thấy sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, và thấy có khả năng để thương
    thuyết, nhưng những người cầm quyền ở Pháp lại nghĩ đến việc dùng vũ lực để chiếm lại Đông
    Dương, và khi Sainteny theo phái bộ Mỹ vào Hà Nội (từ 22/8/1945) thì cũng được chỉ thị:
    “Không được tiến hành thương lượng, nhưng phải thu thập những tin tức cần thiết có thể làm
    căn cứ cho việc mở ra những cuộc thương lương trong tương lai”.
    Cũng cần nhắc lại rằng trước đó, từ ngày 26/7/1945, cùng với việc tìm cách giải quyết số phận
    của nước Đức, ba cường quốc Mỹ, Liên Xô và Anh cuối cùng đã đi đến thỏa hiệp để cho Trung
    Hoa Dân Quốc giải giáp quân Nhật ở miền Bắc Đông Dương, từ vĩ tuyến 16 trở ra, và Anh đảm
    nhiệm việc ấy từ vĩ tuyến 16 trở vào.
    Nhưng ở Việt Nam, những sự kiện đã diễn ra dồn dập: Cách mạng tháng Tám đã bùng nổ và
    cùng theo đó, “vào ngày 2/9, trong lúc tại vịnh Tokyo, nước Nhật ký văn bản đầu hàng thì ông
    Hồ Chí Minh cùng một lúc tuyên bố nền cộng hòa và nền độc lập, với một bản tuyên ngôn
    chuẩn bị rất cẩn thận”.
    Ba chương kế tiếp: Đối đầu và đề nghị - Hà Nội và Sài Gòn bị dồn vào tình thế phải lựa chọn Một sự uốn nắn diệu kỳ: Hiệp định mồng 6/3/1946, nói lên những cuộc tiếp xúc và thương
    thuyết với nhiều khó khăn đã nảy sinh, nhưng cuối cùng đã đi đến việc ký kết hiệp định sơ bộ
    mồng 6/3/1946 mà tác giả cho đây là “Một uốn nắn diệu kỳ”.
    Mặc dù sau này De Gaulle có tỏ ra hối tiếc về cuộc chiến tranh này, nhưng chính ông ta cũng đã
    từng phê phán ông Laurentie, vụ trưởng vụ các vấn đề chính trị của Bộ thuộc địa Pháp bấy giờ,
    khi ông này giải thích lập trường của tướng De Gaulle cho rằng “những mối quan hệ giữa Pháp
    và Đông Dương sẽ không phải đơn giản là giữa chính quốc và thuộc địa mà tiến tới là quan hệ
    bình đẳng”. Và lập trường của De Gaulle trước sau như một vẫn là: “dùng sức mạnh để khôi
    phục lại toàn bộ quyền lực của Pháp... không thương thuyết, liên kết gì với chính quyền bản địa,
    chừng nào chính quyền ấy chưa được Pháp tạo ra”. Trong khi đó, như tác giả đã nêu, “vụ bạo
    động ngày 23/9/1945” ở Sài Gòn đã bùng nổ, tức là nhân dân Nam Bộ đã dùng vũ khí đấu
    tranh chống lại quân Pháp theo gót quân Anh để chiếm lại các tỉnh Nam Bộ. Ngoài ra, chỉ thị
    còn thêm rằng, có thể tính tới một chính quyền do Bảo Đại cầm đầu, nhưng nhất thiết không
    được cho bất cứ nước thứ ba nào chen vào, dù cho đó là Anh, Trung Hoa hoặc Mỹ.

    Chính với sự giúp đỡ của Anh mà Pháp đã trở lại Sài Gòn, chiếm các tỉnh phía Nam, rồi tiến lên
    Campuchia, ký với chính phủ Sihanouk tạm ước 7/1/1946, rồi thỏa hiệp với Trung Hoa để
    thay thế quân đội Trung Hoa tại Lào. Như vậy, đối với Việt Nam, quân Pháp đã chiếm Nam Bộ,
    còn phần Bắc Việt Nam thì còn nằm ngoài sự khống chế của Pháp.
    Kể từ ngày 15/8, D'Argenlieu và Leclerc đã được cử làm Cao ủy và Tư lệnh tối cao các lực lượng
    Pháp và chỉ thị bổ nhiệm ngày 1/8 cũng đã ghi rõ:
    “1. Cao ủy Pháp tại Đông Dương sử dụng những quyền hạn của mình là Toàn quyền Đông
    Dương và là Tổng tư lệnh các lực lượng không quân có căn cứ trên đất Đông Dương hoặc đã
    được chỉ định để đến Đông Dương...”. Đến lúc phải giải quyết “vấn đề Bắc Việt Nam” thì De
    Gaulle phải rời khỏi chức vụ thủ tướng vào cuối tháng 1/1946, và sự kiện này làm cho
    D'Argenlieu bàng hoàng nhưng vẫn không hề bỏ mục tiêu đưa quân Pháp vào Bắc Việt Nam.
    Nhưng đưa quân vào tức là sẽ gây bùng nổ quân sự không những giữa Pháp và Bắc Việt Nam,
    mà còn cả với quân của Trung Hoa. Có thể xảy ra một cuộc hỗn chiến, và tất nhiên, muốn tránh
    chiến tranh phải có những bước chuẩn bị, dàn xếp. Theo cách nhìn của Pháp, đối tượng chính
    phải là Trung Hoa, còn phía Việt Nam là “thứ yếu” (secondaire). Và Pháp tiến tới ký với Trung
    Hoa hiệp ước ngày 28/2/1946, theo đó, Pháp trả lại cho Trung Hoa các nhượng địa mà trước
    kia Pháp đã chiếm. Còn đối với chính phủ Hồ Chí Minh, thì qua thư từ giữa các nhân vật như
    D'Argenlieu, Leclerc, Pignon, Salan, Sainteny, chúng ta cũng thấy sự lo ngại của Pháp trước sự
    bùng nổ chiến tranh, và vào thời điểm quyết định, những con người ấy tác động lẫn nhau để
    tìm sự thỏa thuận của chính phủ Việt Nam.
    Ở đây, phải nói đến lập trường cứng rắn về nguyên tắc và mềm dẻo về sách lược của Chủ tịch
    Hồ Chí Minh, người đã hiện lên như là một trung tâm để giải quyết vấn đề, và các báo cáo của
    những người như Pignon, Sainteny... lược thuật về những cuộc tiếp xúc của Người với các nhà
    báo và các chính khách Pháp, đặc biệt là lời phát biểu của Người với Salan: “Ngay dù cho cả thế
    giới chống lại chúng tôi, chúng tôi cũng không thể chấp nhận trở thành những người nô lệ.
    Pháp là xứ sở của tự do, nước Pháp mới hãy để lại cho chúng tôi sự tự do ấy”.
    Có đọc lại Hiệp định sơ bộ mồng 6 tháng 3 mới thấy hết ý nghĩa thắng lợi của chúng ta và giúp
    chúng ta hình dung được khoảng cách khác xa giữa những tham vọng của Pháp với những gì có
    thể tạo ra một sự ổn định đối với đất nước. Được ký vào chiều ngày 6/3 trước các đại diện của
    Trung Hoa, Anh, Mỹ, hiệp định ghi nhận: “Nước Pháp thừa nhận nước Cộng hòa Việt Nam là
    một quốc gia tự do có chính phủ riêng, quốc hội riêng, quân đội và tài chánh riêng, nằm trong
    liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp. Và về vấn đề thống nhất ba kỳ, chính phủ Pháp cam
    kết công nhận chính thức quyết định của nhân dân qua cuộc trưng cầu dân ý”.
    Nhưng quan trọng hơn cả có lẽ là bản thỏa thuận phụ ký cùng lúc ghi rõ quân đội Pháp đổ bộ
    lên Bắc Việt Nam với số lượng là 15.000 quân và “sẽ được quân đội Việt Nam thay thế mỗi
    năm 1/5 trong vòng 5 năm”. Chính hai nội dung cơ bản trên: trưng cầu dân ý để thống nhất
    Việt Nam và thay thế quân đội Pháp, là hai điều khoản mà Pháp ra sức ngăn cản việc thực hiện.
    Qua nhiều tư liệu lưu trữ, nhà nghiên cứu Ph. Devillers đã chứng minh những thủ đoạn lật lọng
    mà các người Pháp thực dân đã dùng để phá hoại hiệp định. D'Argenlieu, với nhiều hành động
    chống đối, đã để lại một bản bị vong lục ngày 26/4/1946 gởi về Paris, theo đó, ông ta trình bày
    những quan điểm và những thủ đoạn trong đó có dự tính tới việc âm mưu thành lập chính phủ
    bù nhìn ở Nam Kỳ. Và đến ngày 1/6/1946, tức là ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội lên
    đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ Pháp để cùng với phái đoàn Việt Nam tiếp tục
    thương lượng, thì D'Argenlieu công bố việc thành lập Cộng hòa tự trị Nam Kỳ.
    Ba chương kế tiếp: Sài Gòn, điểm nút của vấn đề - Fontainebleau hay là cuộc trường kỳ thương
    lượng, - làm sao vô hiệu hóa được Hà Nội? Nói lên quá trình tiến tới để phá hoại hiệp định sơ
    bộ với hai Hội nghị Đà Lạt và sự thất bại của hội nghị Fontainebleau. D'Argenlieu ngày càng lộ
    rõ là một kẻ nhiều âm mưu, một thực dân cáo già, và ngay sau khi Hội nghị Đà Lạt lần thứ hai

    khai mạc và hội nghị Fontainebleau đang tiếp tục cuộc tranh cãi, thì ông ta đã điện về Pháp:
    “Nếu chính phủ thấy không có khả năng đảo ngược... thì tốt hơn hết là đình chỉ mọi công việc ở
    Fontainebleau”.
    Vào cuối năm 1946, tình hình ở Pháp lại có những thay đổi, Léon Blum, lãnh tụ của đảng xã hội,
    thay thế Bidault, của phong trào Cộng hòa bình dân, chính phủ Pháp nhích sang phía tả, bộ ba
    D'Argenlieu-Valluy-Pignon lại khẩn trương hoạt động phá hoại hiệp định hơn trước và
    D'Argenlieu cho rằng:
    “Phải nhanh chóng gây ra sự tan vỡ, nhưng bằng cách khiến cho Việt Minh phải chịu trách
    nhiệm về sự tan vỡ đó. Phải quấy phá Việt Minh đến mức khiến họ mất kiên nhẫn, lao vào hành
    động bạo lực và do đấy tạo ra một duyên cớ cần thiết. Lại còn phải chuẩn bị chính trị bằng cách
    chứng minh rằng không còn cách nào khác”.
    Chương “Cuộc đoạn g...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGUYỄN DU - BẮC TRÀ MY - QUẢNG NAM!