TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    THÔNG BÁO

    LỊCH PHỤC VỤ MƯỢN TRẢ

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg VietNamtrongDNA.jpg Luoc_do_dia_hinh_Viet_Nam1jpg.jpg Luoc_do_cac_khu_vuc_Chau_A.jpg GIAOTHONGTPHCMMAU3.jpg TG07.jpg 1.jpg

    VIDEO TƯ LIỆU HỌC TẬP

    💕💕MỪNG ĐẤT NƯỚC ĐỔI MỚI, MỪNG ĐẢNG QUANG VINH, MỪNG XUÂN ẤT TỴ NĂM 2025💕💕 KÍNH CHÚC QUÝ BẠN ĐỌC NĂM MỚI AN KHANG THỊNH VƯỢNG 💕💕

    Video hoạt động của Trường THCS Nguyễn Du - Bắc Trà My

    Lich Su Nam Tien Cua Dan Toc Viet - Truc Khe

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 05h:14' 26-04-2024
    Dung lượng: 405.3 KB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    Tên sách : LỊCH-SỬ NAM TIẾN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
    Tác giả : TRÚC-KHÊ
    Nhà xuất bản : NGÀY MAI
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : Linh2017
    Kiểm tra chính tả : Ngô Thanh Tùng,
    Võ Băng Châu, Dương Văn Nghĩa
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 27/09/2018

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận
    « SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG
    BÓNG » của diễn đàn TVE-4U.ORG
    Cảm ơn tác giả TRÚC-KHÊ và nhà xuất bản NGÀY MAI
    đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.

    TRÚC-KHÊ

    LỊCH-SỬ NAM TIẾN
    CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
    (VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN SỬ)
    NHÀ XUẤT BẢN NGÀY MAI
    112, HÀNG BÔNG
    HANOI

    ĐỀ-TỪ
    Gấm vóc non sông một giải liền,
    Máu đào xương trắng điểm tô lên.
    Cơ trời dù đổi trò tang hải,
    Mặt đất chưa tàn nghiệp tổ tiên.
    Có nước có dân đừng rẻ rúng,
    Muốn còn muốn sống phải đua chen.
    Giật mình nhớ truyện nghìn năm cũ,
    Chiêm Lạp ngày xưa vốn chẳng hèn.
    NHƯỢNG-TỐNG KÍNH ĐỀ

    Bắc từ Lạng-sơn, nam Hà-tiên,
    Non sông một giải đất đai liền.
    Con Hồng cháu Lạc cùng cư tụ,
    Con cháu còn chăng nhớ tổ-tiên ?
    Tổ-tiên gây dựng biết bao công,
    Đánh Lạp bình Chiêm trải mấy đông.
    Nghiệp cả nối noi nên kính uý,
    Sao cho không hổ giống Tiên Rồng.
    TÁC-GIẢ TỰ-ĐỀ

    LỊCH-SỬ NAM-TIẾN CỦA DÂN-TỘC VIỆT
    NAM
    (VIỆT-NAM DÂN-TỘC NAM-TIẾN-SỬ)
    Trúc-Khê NGÔ-VĂN-TRIỆN biên-soạn
    Viên-tản cao xanh, Mê-công rộng lớn, non sông một dải,
    đất nước ba phần, vui vẻ thay anh em chị em hai mươi nhăm
    triệu đồng bào ta ngày nay được cùng nhau sinh tụ ở trên
    một cõi nước non hoa gấm, kẻ đi săn sẵn rừng, kẻ đi cầy sẵn
    ruộng, kẻ làm thợ sẵn đồ nguyên liệu, kẻ đi buôn sẵn đường
    bể sông, thực là một cõi rất thích nghi cho sự sinh hoạt của
    dân tộc ta, tựa như ông giời kia có ý vì dân tộc ta mà riêng
    dành cho vậy. Tuy nhiên nói vậy mà thôi, muôn việc ở đời, ta
    chớ nên lầm tưởng có ông giời kia đã vì người mà đặt để, dời
    sông chuyển núi, hết thẩy đều do ở nhân-lực mà nên. Chúng
    ta ngày nay được cùng nhau sinh tụ ở trên cái miếng đất
    Việt-Nam tốt tươi xinh đẹp của chúng ta đây, ta chớ nên lầm
    tưởng là do ở sự ngẫu-nhiên, chính là đã nhờ ở các bực tiêndân của dân tộc ta trải qua mấy trăm nghìn năm, đã từng
    tưới dội biết bao nhiêu giọt máu đào mới tô bồi nên một cõi
    đất xinh đẹp tốt-tươi cho chúng ta ngày nay đó. Than ôi ! tôi
    nghe có từng biết gây dựng gian nan, thì mới biết giữ gìn báu
    trọng, một gã thiếu-niên sinh ra ở cửa nhà hào phú, sẵn ông
    cha để cho tiền nghìn bạc vạn, tưởng chừng như tiền bạc là
    một vật nhặt đâu cũng được, tha hồ mà hoang toàng phung
    phí, dùng bậy tiêu càn, không còn biết đoái tiếc gì cả ; nhưng
    ví có người bảo cho nó biết cái nông nỗi để biết bao nhiêu mồ

    hôi máu mặt của ông cha nó trong khi tu tạo nên cái cơ đồ
    ấy, nếu nó là kẻ lương tâm chưa mất hẳn, thì tất sẽ giật thót
    mình lại mà lo tự tu tự tỉnh tự phấn tự lệ để bảo toàn lấy
    công nghiệp huyết hãn của ông cha. Ấy tôi viết cuốn « Lịch
    sử nam tiến của dân tộc ta » đây chính là ý ấy.
    Lịch sử nam tiến của dân tộc ta ra thế nào ?
    Xét xem lịch sử mở mang bờ cõi của nước ta từ xưa đến
    nay, có thể gồm vào mà gọi là một cuộc nam tiến ; vì trước
    sau ta chỉ nhằm tiến về một mặt nam mà thôi. Bởi sao mà
    như thế ? Bởi vì địa thế của ta nó khiến như thế. Nước ta
    ngày xưa phía bắc giáp nước Tàu, phía nam giáp Chiêm, Lạp,
    phía đông giáp bể lớn, phía tây giáp Ai-lao. Ở giữa cái khoảng
    núi Tản sông Hồng kia nếu muốn khuếch trương bờ cõi cho
    rộng lớn thêm có đủ thế lực mà lập nên một nước đứng đắn ở
    Á-đông, trừ tiến về mặt nam không còn mặt nào hơn nữa.
    Bởi vì mặt bắc giáp nước Tàu là một nước rất lớn, lo chống
    chọi với họ để họ khỏi nuốt sống mình còn lo chưa nổi, mong
    gì khai thác về mặt ấy được ; mặt đông thì đã giáp bể ; mặt
    tây giáp với Ai-lao tuy là một nước nhỏ yếu,nhưng vì có nhiều
    núi cao rừng rậm ngăn cách, thành ra dẫu muốn mở mang về
    mặt ấy cũng chưa thể được ; trừ ra chỉ còn mặt nam giáp với
    nước Chiêm-thành, nước Chiêm-thành lại giáp với nước
    Chân-lạp, vì cớ đường thuỷ, đường lục được tiện, vả hai dân
    ấy đều là dân nhỏ yếu có thể lấn át họ được, vì vậy mà sức
    bành trướng của dân tộc ta trước sau đều chỉ tràn về mặt
    nam. Tuy thế mặc lòng, sự khai thác bờ cõi, há có phải là
    một việc dễ đâu ; huống chi dân Chiêm Lạp cũng không phải
    hoàn toàn là giống hư hèn, cũng là những cái dân đã từng có

    một nền văn-minh rất sớm, thế mà lấy như một dân tộc nhỏ
    ở trong mảnh đất Giao-chỉ nọ, ngày lần tháng nữa, đã
    nghiễm nhiên phá diệt được cả Chiêm-thành lẫn Chân-lạp mà
    dựng nên một nước lớn Việt-Nam, đủ biết cái công phu huyết
    hãn của các đứng tiên dân ta xưa, thực đã lớn lao vô cùng
    vậy.
    Cứ như các nhà nhân-chủng-học thì bảo dân tộc ta thuộc
    giống Mông-cổ, song cỗi gốc từ đâu mà đến thì mỗi sách nói
    một khác không sao đủ bằng cứ được. Sách thì bảo dân ta là
    ròng rõi Tây-tạng, sách thì bảo là ròng rõi Giao-chỉ, sách thì
    bảo là ròng rõi Việt thường, sách thì bảo là ròng rõi nước Việt
    bên Tàu, tổng chi đều là những nhời ức đoán cả, chứ không
    lấy gì làm đích xác. Vậy chúng ta chỉ nên biết rằng chúng ta
    là riêng một dân tộc ở trong thế giới, tức ngày nay gọi là dân
    tộc Việt-nam.
    Xét về cương vực nước ta đời Hùng dựng nước, đồ bản lúc
    ấy khác hẳn bây giờ ; cứ như sử cũ thì nói bấy giờ phía đông
    giáp bể Nam, phía tây giáp Ba-thục (tỉnh Tứ-xuyên nước Tầu
    bây giờ) phía bắc hồ Đỗng đình (thuộc tỉnh Hồ-nam) phía
    nam đến nước Hồ-tôn (sau là Chiêm-thành), quốc hiệu là
    nước Văn-lang. Cuối đời Hùng-vương (258 trước tây lịch),
    Thục-Phán diệt nước Văn-lang dựng nước Âu-lạc, tức là Thục
    An-dương-vương. Năm Đinh Hợi (214 trước T.L) nước Âu-lạc
    bị nước Tần đem quân sang lấn, lấy đất Lục lương mà đặt ra
    3 quận : Nam-hải (Quảng-đông) Quế-lâm (Quảng-tây)
    1

    Tượng-quận (Quảng-tây) . Cuối đời Tần (207 trước T.L)
    quan Úy quận Nam-hải nhà Tần là Triệu-Đà đêm quân diệt
    nước Âu-lạc mà dựng nên nước Nam-Việt, xưng là Triệu Vũ-

    vương, đất cát gồm có 3 quận trên và cả đất của Thục An
    dương vương. Năm Canh ngọ (111 trước T.L) đời Thuật
    dương vương nhà Triệu, nước Nam-Việt bị nước Hán diệt mất,
    thế là từ đó phải nội thuộc về Tầu. Đời Hán Quang-Vũ năm
    Kiến-vũ thứ 16 (Tây lịch 40) vua Trưng giấy quân đuổi quan
    Thái-thú nhà Hán là Tô-Định, lấy lại được 65 thành đất Lĩnhnam. Cứ theo như sách Thoái thực ký văn của cụ Trương
    Quốc Dụng chép thì nói nước ta sau khi nội thuộc về nhà
    Tây-Hán, nhà Hán chia đất đặt ra 9 quận là Nam-hải, Uấtlâm, Thương ngô, Hợp-phố, Nhật-nam, Cửu-chân, Giao-chỉ,
    Đam-nhĩ, Châu-nhai mà gọi chung là bộ Giao-chỉ, sau lại bãi
    2 quận Châu-nhai Đam-nhĩ mà hợp vào làm 7 quận, quận
    Giao-chỉ lĩnh 12 thành, (tức là huyện), quận Cửu-chân lĩnh 5
    thành, quận Nhật-Nam lĩnh 5 thành, quận Nam-hải lĩnh 7
    thành, quận Thương-ngô lĩnh 11 thành, quận Uất-lâm lĩnh 11
    thành, quận Hợp-phố lĩnh 5 thành, cả thẩy là 56 thành ; vậy
    thì Đại-Việt sử ký chép là vua Trưng đánh đuổi Tô-Định lấy
    được 65 thành, có lẽ là số 56 mà nhầm là 65 chăng ? Như
    thế thì đời vua Trưng cũng có thu phục được cả Quảng-đông
    Quảng-tây vậy.
    Sau khi vua Trưng mất nước, nước ta lại nội thuộc về nhà
    Đông-Hán. Năm Kiến-an thứ 15 (210) đời Hán Hiến-đế, nhà
    Hán đổi bộ Giao-chỉ mà đặt làm Giao-châu. Năm Hoàng-vũ
    thứ 5 (266) nhà Ngô, Ngô-Tôn-Quyền cắt 3 quận Nam hải,
    Thương-ngô, Uất-lâm lập làm Quảng-châu, còn 4 quận kia
    vẫn để làm Giao-châu, nhưng không bao lâu lại hợp lại như
    cũ. Đến năm Vĩnh-an thứ 7 (264) Ngô-Tôn-Hưu lại lấy 3 quận
    trước mà đặt làm Quảng châu, châu Giao châu Quảng chia

    hẳn ra bắt đầu từ đấy, mà chính là khởi điểm cho sự mất đi
    quá nửa phần đất của nước ta vậy. Từ đấy về sau trải qua
    mấy phen cách mệnh, nhưng người mình cũng chỉ khôi phục
    được đất châu Giao mà thôi ; đến đời Ngô, Đinh độc lập mà
    đất châu Quảng đã không còn mong gì khôi phục lại được
    nữa.
    Mở xem bản đồ thì nước ta mất đất châu Quảng tức là
    mất đi quá nửa phần nước, cương vực chỉ còn quanh một xứ
    Bắc-Kỳ và 3 tỉnh Thanh, Nghệ Tĩnh phía Bắc Trung-kỳ mà
    thôi. Đất thì nhỏ hẹp mà số dân sinh sản một ngày một
    nhiều, sự thế không thể không tìm đường bành trướng. Như
    trên đã nói, ba mặt đông tây bắc không phải là con đường có
    thể tiến được, tự nhiên là phải tiến xuống mặt nam, huống
    chi những dân Chiêm-Thành, Chân-Lạp ở mặt nam lại thường
    hay vào quấy nhiễu nước ta, ta chẳng diệt họ thì họ cũng
    chẳng để cho ta được yên, nhân thế mà nam tiến là một con
    đường phải đi của ta, mà sự mở mang bờ cõi của nước ta
    gồm cả ở trong một cuộc nam tiến vậy.
    Nay xin lần lượt chép về cuộc nam tiến ấy. Đời vua Lê
    Đại-Hành niên hiệu Ứng thiên năm thứ 8 (1000) bấy giờ vì
    nước Chiêm-Thành bắt giam sứ-giả nước ta là bọn Từ-Mục,
    Ngô-Tử, vua giận, tự làm tướng đem quân vào đánh chém
    được tướng Chiêm là Ti-mi-thuế, Chiêm-vương phải bỏ chạy,
    quân ta lấy được vàng bạc của cải rất nhiều. Vua Đại-Hành
    lại sai Ngô-Tử-Yên đem 3 vạn quân mở một con đường đi bộ
    từ cửa bể Nam-giới cho đến châu Đại-lái (đất Chiêm, nay là
    phủ Quảng ninh thuộc tỉnh Quảng-bình). Lại đào một con
    sông từ núi Đồng-cổ cho đến con sông Bà-hoà tức là con

    sông ở xã Đồng-hoà, huyện Ngọc-sơn bây giờ. Ấy tức là khởi
    đầu cho bước đường nam tiến của dân tộc ta, vì có hai đường
    thuỷ lục ấy thì quân ta vào đánh Chiêm-Thành mới được tiện
    đường vận tải vậy.
    Nói đến nước Chiêm-Thành tưởng cũng nên thuật về lịchsử của nước ấy. Nước Chiêm-Thành khi xưa là nước Hồ-Tôn,
    thuộc về bộ Việt-Thường. Đến nhà Tần đặt làm huyện LâmẤp. Nhà Hán lại đổi làm huyện Tượng-Lâm thuộc về quận
    Nhật-Nam. Đến thời vua Thuận-Đế nhà Hán năm Vĩnh-Hoà
    thứ 2 (137) người trong quận ấy tên là Khu-Liên đương làm
    chức Công-Tào, bèn giết quan huyện lệnh mà giữ lấy đất tự
    xưng là Lâm-ấp-vương. Truyền được vài đời rồi cháu ngoại là
    Phạm-Dật kế lập, Dật mất, người tướng là Phạm Văn cướp
    2

    ngôi rồi đánh lấn lấy đất nước láng giềng. Từ đó nước mới
    rộng lớn, Đông Tây rộng 700 dặm. Nam Bắc dài 3000 dặm,
    phía nam gọi là châu Thi Bị, phía tây gọi là châu Thượng
    Nguyên, phía Bắc gọi là châu Ô lỵ, thống trị cả thẩy 38 châu.
    Đời vua Mục Đế nhà Tấn (347) Phạm văn đem quân đánh
    Nhật Nam rồi chiếm lấy đất, nói với quan Thứ Sử Giao Châu
    là Chu Phồn xin từ núi Hoành Sơn ở phía Bắc Nhật Nam làm
    địa giới của mình. Phồn không nghe, đến khi Văn mất, con là
    Phật lên nối ngôi vẫn đóng ở Nhật Nam. Sau bị quan thái thú
    Cửu-châu là Quán Toại đánh đuổi đi, bèn lại trở về Lâm Ấp.
    Năm Nghĩa Hy thứ 9 (413) đời nhà Tấn vua Lâm Ấp là
    Phạm Hồ Đạt vào cướp quận Cửu-châu bị quan thứ sử Giaochân là Tuệ Đô đánh chém được. Đến đời Nguyên Giả nhà
    Tống, vua Lâm Ấp là Phạm-dương-Mại sai sứ sang cống nhà

    Tống và xin được lĩnh Giao Châu, nhà Tống không cho, bèn
    lại cướp bóc như cũ. Nhà Tống sai Dân Hoà Chi và Tôn Xác đi
    đánh phá được quân Lâm-Ấp. Dương Mại chỉ thoát được một
    mình chạy trốn. Đến sau Phạm Chi nối ngôi, lại vào cướp
    Nhật Nam. Thời vua Dạng Đế nhà Tuỳ, niên hiệu Đại Nghiệp
    năm Dần (605) sai tổng quản Hoan Châu là Lưu-Phương đến
    đánh, đem quân sang đò Đồ lễ đi qua về phía nam cột đồng
    trụ 8 ngày mới vào đến quốc Đô, Phương vào thành bắt được
    18 bộ thần chủ bằng vàng bởi vì truyền quốc đến đó được 18
    đời vậy. Thế là Lâm Ấp bị diệt, từ đó đất thuộc về nhà Tuỳ.
    Nhà Tuỳ chia đặt ra làm 3 châu là : Đãng-châu (Quảng-Bình,
    Quảng-Trị, Thừa-thiên), Nông-châu (Quảng-nam, Quảngngãi) Xung-châu (Bình-định, Phú-yên). Kế lại đổi Đãng-Châu
    làm quận Tị-Cảnh thống 4 huyện Tị Cảnh, Chu Ngô, Gia
    Lãnh, Tây Quyền ; Nông Châu làm quận Hải Âm thống 4
    huyện Tân Dung, Châu Long, Đa Nông, An-Tạc ; Xung Châu
    làm quận Lâm Ấp thống 4 huyện Tương Phố, Kim Sơn, Giao
    Dang, Nam Cục. Cuối đời nhà Tuỳ Phạm Chí lại họp quân
    chiếm giữ đất cũ. Đầu đời Đường, nhà Đường lại dụ hàng
    được Chí, mới đổi Lâm Ấp làm Lâm Châu, Tị Cảnh làm Lãng
    Châu, Hải Âm là Sơn Châu. Năm Trình Quán thứ 2 (628)
    cháu Phạm Chí là Phạm Đầu Lê, khôi phục được nước, sai sứ
    dâng hạt Hoả Chu chim yểng ngũ sắc và sừng thông thiên tê
    sang nhà Đường. Đầu Lê mất, con là Long nối ngôi, Long lại
    bị tên Ma-Aman, Đa-già-Độc giết mất. Người trong nước bèn
    lập người con nhà cô Đầu Lê là Chư cát Địa lên làm vua đổi
    quốc hiệu là Hoàn Vương. Trong năm Nguyên Hoà đời Đường
    Hiến-Tôn, nước Hoàn Vương lại vào cướp châu Hoan, châu Ái

    (Thanh Nghệ Tĩnh) bị hai quan đô hộ A nam đánh thua, bèn
    bỏ Lâm Ấp mà dời nước vào Chiêm, xưng nước là Chiêm
    Thành (vì chỗ đó có ngọn núi Chiêm bất La) đến khi nước ta
    Độc Lập về thời nhà Đinh, Chiêm Thành định vào cướp kinh
    thành Hoa Lư (Ninh Bình), xong Hải quân khi vượt qua cửa
    bể Đại Ác thì bị bại mà chạy về. Đến đời nhà Lê, Chiêm lại
    bắt giam xứ giả nước ta, vì vậy quân ta lại vào đánh chém
    được tướng Chiêm và phá tan thành trở về. Đến đời nhà Lý
    vua Thái Tổ năm Thuận Thiên thứ 2 (1001) quân ta lại vào
    đánh Chiêm Thành ở trại Bố Chính (Quảng Bình) đuổi giặc
    đến tận núi Long Tỵ (núi này ở tận phía tây huyện Bình Chính
    năm dậm).
    Đời vua Thái Tôn nhân nước Chiêm thành đã cách 16 năm
    không chịu vào dưng đồ cống hiến, vua Thái-tôn bèn định ra
    oai cho họ biết sợ, mới đóng ra mấy trăm chiếc tàu chiến
    theo các hình rồng phượng cá rắn hùm beo anh võ, luyện tập
    quân thuỷ quân bộ cho được tinh nhuệ. Niên hiệu Thiên cảm
    thánh võ năm đầu (1044) quân ta bèn đại cử vào đánh
    Chiêm, do vua Thái-tôn thân đi làm tướng, theo đường thuỷ
    tiến vào cửa bể Ô-long (nay là cửa Tư-hiền, ở phía đông bắc
    huyện Phú-lộc 1 dậm thuộc về tỉnh Thừa-thiên) đánh nhau
    với Chiêm-thành một trận, quân họ phải thua, chém được
    vua họ là Xạ-Đẩu và giết chết quân họ hơn 3 vạn người, bắt
    sống được 5 nghìn người, 30 con voi. Rồi tiến vào thành
    Phật-thệ (ở xã Nguyệt-biều tỉnh Thừa-thiên bây giờ) bắt vợ
    3

    con vua họ đem về . Còn những người của nước ấy bắt được
    thì đem phân sáp vào trấn Vĩnh-khang, (tức phủ Tương
    dương Nghệ-an) trấn Đăng-châu tức phủ Quy hoá) mà lập ra

    làm phường ấp. Đời vua Thánh tôn niên hiệu Thiên-huốngbảo-tượng năm thứ 2 (1069), quân Chiêm vào cướp, vua giao
    cho nguyên-phi quyền coi việc nước, tự làm tướng đi thân
    chinh, bắt được vua Chiêm là Chế-Củ và 5 vạn người Chiêm
    đem về. Chế-Củ xin dâng đất 3 châu là châu Địa-lái (nay là
    đất phủ Quảng-ninh tỉnh Quảng-bình), châu Bố-chinh (nay là
    đất phủ Quảng-Trạch tỉnh Quảng-bình), châu Ma-linh (nay là
    đất phủ Triệu-phong tỉnh Quảng-trị) để chuộc tội mới được
    tha về. Đời vua Nhân-Tôn năm Thái-ninh thứ 4 (1075) vua
    sai ông Lý-thường-Kiệt vào kinh lý 3 châu ấy, vẽ thành địa
    đồ, đổi châu Địa-lái làm châu Lâm-bình, châu Bố-chinh, châu
    Ma-linh làm châu Minh linh, rồi chiêu dụ cho dân đường ngoài
    vào ở. Chế-Củ mất, Chế-ma-Na nối ngôi, lại cướp lấy 3 châu
    ấy. Năm Long-phù thứ 4 (1104), quân ta lại vào đánh, do
    ông Lý-thường-Kiệt làm tướng, đánh phá được Chiêm thành,
    Chế-ma-na lại phải nộp giả đất 3 châu. Thế là đất Quảngbình và một phần đất Quảng-trị từ đó thuộc hẳn về ta vậy.
    Thời vua Lý-Thần-Tôn, Chiêm-thành cùng Chân-lạp ra
    cướp Nghệ-an, bị quan Thái thú là Dưỡng anh-Nhĩ đánh thua
    phải chạy. Sau họ lại thường đem thuỷ sư ra cướp bóc các
    miền ven bể.
    Sang đời nhà Trần, vua Thái-tôn đi thân chinh, bắt được
    vua Chiêm là Lâu-bố-gia-la và những nhân dân đem về. Năm
    Hưng Long thứ 10 đời vua Trần-Anh-Tôn (1302), vua Chiêmthành là Chế-Mân sai sứ ra cầu hôn và xin nộp hai châu Ô, Lỵ
    làm đồ cưới. Vua Anh-Tôn đem bà Huyền-Trân công chúa gả
    cho rồi đổi châu Ô làm Thuận châu (đất phía Nam tỉnh
    Quảng-trị) châu Lỵ làm Hoá-châu (Thừa-thiên và phía bắc

    Quảng-nam). Thế là bước đường nam tiến của dân tộc ta đã
    tiến đến nửa tỉnh Quảng-nam rồi vậy.
    Sau đó Chiêm-thành thường hay đem quân ra cướp để
    báo thù. Cuối đời nhà Trần, Chiêm-thành 3 lần ra cướp phá
    kinh thành Thăng-long và mấy lần cướp phá Thanh Nghệ,
    nhân dân cũng chết hại rất nhiều, vua Trần-Duệ-tôn đi thân
    chinh (1376) dẫn quân đến cửa bể Thi nại (ở phía đông
    huyện Tuy-phúc tỉnh Bình-định bây giờ), vua Chiêm là Chếbồng-nga trá hàng rồi phục quân mà đánh chặn ngang, vua
    Duệ-tôn phải tử trận, quân sĩ chết mất nhiều lắm. Đời vua
    Thuận-tôn, Thượng tướng quân Trần-Khát-Trân đón đánh ở
    sông Hải-trào, Chế-bồng-nga tin phải đạn mà chết ; bộ tướng
    là La-Khải dẫn quân về giữ lấy nước tự lập làm vua, bấy giờ
    cái nạn giặc Chiêm-thành mới tạm yên.
    Đời nhà Hồ niên hiệu Thánh nguyên năm đầu (1400), HồQuý-Ly sai Hành-khiển Đỗ-Hải làm Thuỷ quân đô tướng,
    tướng Tả thánh dực quân Trần-Vấn làm Đồng đô tướng,
    tướng Long-tiệp-quân Trần-Tùng làm Bộ quân đô tướng,
    tướng Hữu thánh dực quân Đỗ nguyên Thác làm Đồng đô
    tướng, đem 15 vạn quân đi đánh Chiêm-thành. Bộ quân Đô
    tướng Trần-Tùng vì nghe nhời Đinh-đại-Trung, dẫn quân đi
    tận mạn sơn cước, cách xa với thuỷ quân quá, xẩy gập khi
    mưa lũ nước lụt, tướng sĩ đành đóng lại ở giữa đường, tuyệt
    lương trong 3 ngày giời, phải nướng áo giáp bằng da ra mà
    ăn. Khi hồi quân, Trần-Tùng xuýt phải tội chết, nhưng vì có
    công lao trước, được miễn tội chết mà phải đầy làm quân
    lính.
    Năm Thiệu-thành thứ 2 (1402) mùa xuân tháng hai, vua

    Hồ-Hán-Thương sai sửa định quân ngũ. Tháng ba sai sửa một
    con đường từ thành Tây-đô (ở xã An-tôn huyện Vĩnh-lộc tỉnh
    Thanh-hoá bây giờ) đến Hoá-châu (Thừa-thiên), dọc đường
    đặt ra phố sá và nhà trạm gọi là đường thiên lý. Mùa hạ
    tháng sáu Hán-Thương cất đại quân vào đánh Chiêm-thành,
    lấy Đỗ-Mãn làm Đô tướng, Nguyễn-Vi làm Chiêu dụ sứ,
    Nguyễn-bằng-Cử làm Đồng Chiêu dụ sứ. Quân ta đến bờ cõi
    Chiêm-thành ; Đinh-đại-Trung cưỡi ngựa đi tiên phong, gập
    tướng giặc là Chế-cha-nan, hai người giao chiến cùng chết
    cả. Vua Chiêm là Ba-đích-lại (con La-Khải) sợ hãi, sai Cậu là
    Bố-điền đem dâng 2 con voi, một con đen một con trắng
    cùng mọi đồ phương vật, lại dâng đất Chiêm-động để xin ta
    lui quân. Bố-điền đến, Hán-Thương bắt hiếp phải chữa lại tờ
    biểu, nói dâng cả đất Chiêm-động và đất Cổ-luỹ ; rồi chia đất
    Chiêm-động ra làm châu Thăng châu Hoa (đất phía Nam tỉnh
    Quảng-nam), chia đất Cổ-luỹ ra làm châu Tư châu Nghĩa
    (Quảng Nghĩa) đặt quan Thăng-hoa an-phủ-sứ để thống trị
    các châu ấy. Về mạn thượng du thì đặt ra làm trấn Tân-ninh.
    Chiêm-thành đem những nhân dân ở các đất ấy về nước, còn
    thì ta thu dùng làm quân. Hán-Thương bèn đổi quan An-phủ
    4

    sứ lộ Thuận-hoá là Nguyễn-cảnh-Chân vào làm Thăng-hoa
    An-phủ-sứ, rồi thiên dân mạn bắc vào ở mấy châu ấy, cho cả
    vợ con được đi theo ; lại cho dân nộp trâu chuộc tội để lấy
    trâu mà cấp cho những dân thiên cư ấy. Từ đó dân ta thiên
    vào ở mặt nam càng ngày càng nhiều.
    Hiệu Khai đại năm đầu (1403), quân ta lại vào đánh
    Chiêm-thành, vua Hồ-Hán-Thương dự chia đất Chiêm ra làm
    các châu huyện, sai Phạm-nguyên-Khôi thống xuất hai mươi

    vạn quân thuỷ bộ tiến vào. Quân pháp rất nghiêm, người nào
    lâm trận mà nhút nhát sẽ bị tội chém, vợ con điền sản sẽ
    phải thu làm của quan. Đại quân vào đến Chiêm-thành, vây
    thành Đồ-bàn (Bình-định) nhưng vì quân đi đã chín tháng
    giời, lương hết lại phải kéo về.
    Không được bao lâu thì nhà Hồ bại ; quân Minh vào chiếm
    nước ta, ta còn lo chống chọi với giặc Minh chưa xong, vua
    Chiêm-thành là Ba-Đích-lại nhân dịp đó chiếm lấy 4 châu
    Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa mà lại hay vào biên cương cướp phá.
    Sau khi nhà Lê phục quốc, niên hiệu Thái-hoá thứ 2 (1444),
    vua Chiêm là Bí-Cai lại vào cướp phá đất Hoá-châu ; vua
    Nhân-tôn mới sai ông Lê-Phụ, ông Lê-Khả vào đánh thành
    Đồ-Bàn, bắt Bí-Cai đem về. Người trong nước mới lập người
    cháu vua cũ Bố-Đề là Ma-a-quy-lai lên làm vua. Em Quy-lai là
    Quy-Do lại giam anh mà tự lập. Sau Bàn-la-trà-duyệt giết
    Quy-Do mà cướp lấy rồi truyền ngôi cho con là Bàn-la-tràtoàn. Năm Hồng-Đức thứ 1 (1470) mùa thu tháng 8 vua
    Chiêm là Bàn-la-trà-toàn thân xuất thuỷ bộ tượng mã vào
    cướp Hoá-châu. Trấn tướng Hoá-châu là Phạm-văn-Hiển thế
    không địch nổi mới dồn dân vào cả trong thành rồi đưa thư
    cáo cấp về triều. Vua Thánh-Tôn liền xuống dụ trưng binh mộ
    tướng. Tháng 11, định ra 52 điều quân luật. Ngày mồng 6,
    vua xuống một tờ chiếu nói việc thân chinh Chiêm-thành, sai
    thái-sư Lân-quận-công Đinh-Liệt, Thái-bảo Kỳ-quận-công LêKiện lĩnh quân ba phủ đông nam bắc đi trước, ban bố 24 điều
    về việc đi đánh Chiêm-thành ra các dinh và các vệ Cẩm-y,
    Kim-ngô, Thân-vũ Điện-tiền. Ngày mồng 7, vua vào làm lễ
    cáo ở nhà Thái-miếu. Ngày 16, vua thân xuất đại quân tiến

    đi, sai bọn tả đô đốc Lê-hy-Cát, Hữu đô-đốc Lê-cảnh-Huy ở
    lại kinh thành lưu thủ. Ngày hôm ấy ngự giá khởi hành, có
    mưa phùn và có gió bắc, vua có làm mấy câu thơ rằng :
    « Trăm muôn tướng sĩ ruổi lên đường, lấm tấm mưa nhuần,
    gió bắc phương », tức là bài thơ kỷ thực đó. Sai Nguyễn-nhưĐổ đến tế ở miếu vua Đinh-Tiên-Hoàng, để cầu quân đi được
    thắng trận. Vua lấy bức địa đồ Chiêm-thành, đổi đặt lại
    những tên sông núi. Ngày mồng 3 tháng 12, đại giá đến
    Thiết-sơn. Ngày 18, thủy quân vào đến Chiêm-thành.Năm
    Hồng-Đức thứ 2 (1471), ngày mồng 2 tháng Giêng, vua nghĩ
    rằng đại tướng quân đem quân bước vào cõi giặc thì cần phải
    có quân sĩ tinh luyện, bèn truyền cho quân Thuận-hoá đều
    phải ra bể để thao diễn về đường thuỷ chiến. Vua lại lo rằng
    núi sông nước Chiêm nhiều chỗ hóc hiểm chưa biết, bèn sai
    người thổ tù Thuận-hoá là Nguyễn-Vũ vẽ một bức tường đồ
    dâng trình. Ngày mồng 6 viên Chỉ huy là Cương-Viễn bắt đem
    đến nộp một tên coi giữ ở cửa quan Câu đê Chiêm-thành là
    Bồng nga. Viên tù trưởng Sa bôi là Cầm tích, tù trưởng Thuận
    bình là Đạo-Vũ hôm ấy cũng vào chầu dâng đồ phương vật.
    Sứ thần Ai-lao là bọn Lang-lệ cũng đem đồ phương vật lại
    dâng. Vua thân soạn bài sách Bình Chiêm ban ra các dinh,
    trong bài sách nói có 10 lẽ có thể thắng và có 3 việc đáng
    nên sợ. Vua sợ tướng sĩ chưa hiểu, sai quan Chỉ huy Nguyễnthế-Mỹ dịch ra quốc ngữ cho mọi người đều biết. Lại sai quan
    Giám-sát ngự-sử Lê-bá-Di đem thóc kho Thuận hoá mà
    chuyển vận đến nơi hành tại. Ngày mồng 5 tháng 2 vua
    Chiêm là Trà-Toàn sai em là Thi-Nại và đại thần 6 người đem
    8 nghìn binh tượng lẻn đến gần dinh vua để mưu đánh úp.

    Ngày mồng 7 vua sai Tả-du-kích tướng-quân Lê hy Cát,
    Hoàng nhân Thiêm, và tiên phong tướng quân Lê-Thế, Trịnhvăn-Sái đem hơn 5 trăm chiếc tầu 3 vạn tinh binh, đang đêm
    lẻn ra cửa bể Cựu-áp (nay là Tiểu áp thuộc huyện Hà-đông
    Quảng-nam), kịp vượt bể lẻn vào cửa Sa kỳ (cửa này nay ở
    phía đông nam huyện Bình-sơn tỉnh Quảng-nghĩa) lập luỹ
    đắp thành để chặn đường về của giặc. Quân Chiêm vẫn
    không biết gì cả. Ngày mồng 7, vua thân xuất thuỷ quân hơn
    nghìn chiếc tàu, 70 (?) vạn tinh binh kéo ra hai cửa bể Tân
    áp Cựu áp (Tân áp nay là Đại áp cũng ở huyện Hà đông,
    Quảng-nam) cờ bay rợp bể, trống đánh vang giời, quân reo
    rầm rĩ mà tiến vào cửa bể Thái cần (Quảng-nghĩa) mật sai
    tướng bộ quân là Nguyễn-Đức-Trung đem bộ binh lẻn đến
    mạn sơn cước. Quân Chiêm trông thấy quân vua ầm ầm kéo
    đến đều sợ hãi, chạy cả về thành Đồ-bàn. Về đến núi Mạc-nô
    chợt thấy Hy-cát đã chẹn mất đường về, hoảng hốt phải chạy
    vào đường núi, khí giới lương thảo bỏ lại đầy đồng, người
    ngựa ngã chết khắp núi. Bọn Lê-Niệm Ngô-Hồng phái binh
    đuổi đánh, chém chết được một viên đại tướng. Trà Toàn
    nghe tin em thua chạy, sợ hãi, vội sai người thân tín dâng
    biểu xin hàng. Vua không nghe. Ngày 27, vua thân xuất đại
    quân phá thành Thi nại, chém được hơn trăm thủ cấp. Ngày
    28 vua tiến binh vây thành Đồ bàn. Ngày 29, đến sát chân
    thành vây chặt mấy vòng. Ngày mồng 1 tháng 3, vua truyền
    lệnh cho các đạo quân đồng thời đánh thành và làm thang
    bắc trèo lên mặt thành. Một lúc, vua trông thấy quân tiền kỵ
    đã trèo được lên tường thành, bèn phát 3 tiếng súng hiệu,
    truyền quân chém phá cửa đông tiến vào, lại sai Đồng thái

    giám Nguyễn-Đam truyền cho các quân sau khi vào thành
    phàm các kho đạn tài vật không được cướp phá. Chiêm chúa
    Trà-toàn bắt được không được giết chết. Quân ta hạ được
    thành, bắt được hơn 3 vạn người, chém được hơn bốn vạn
    cấp. Vua sai quan chỉ huy Ngô-Nhạn dẫn hàng tướng của
    Chiêm là Bồ-sản-ba-ma đến, sai dàn bầy những của báu đồ
    vật gì của Chiêm mà nước ta không có để vua coi. Lệnh-uý
    Đỗ-Hoàn trỏ khắp từng thứ. Có một cái hộp bạc, hình như cái
    gươm. Vua hỏi đó là vật gì ? Hoàn tâu vật ấy từ xưa đến nay
    phàm vua nước Chiêm tất đều phải có, rồi đời nọ truyền cho
    đời kia. Quân Thuận-hoá bắt sống được Trà-Toàn dẫn đến
    trước mặt vua, Trà-Toàn phục lạy xuống đất. Vua hỏi rằng :
    « Nhà ngươi có phải là vua Chiêm không ? » Trà-Toàn thưa
    phải. Vua hỏi : « Nhà ngươi có mấy con ? » Trà-Toàn thưa có
    hơn 10 con. Đỗ-Hoàn nói : « Hắn đã biết phép thì xin bệ hạ
    tha chết cho hắn ». Vua bảo Trà Toàn rằng : « Trong vòng
    gươm súng, ta chỉ e nhà ngươi ngộ hại, may không hề gì như
    thế, ta thật yên lòng ». Bèn sai đem Trà Toàn cho ra ở tạm
    một cái nhà nhỏ. Quân sĩ điệu đi mau quá. Vua bảo :
    « Thong thả chứ mà ! Hắn là vua một nước, không nên làm
    quẫn bách hắn quá như thế ».
    Trà Toàn đã bị bắt, có người tướng của Trà Toàn là Bô tri
    trì chạy đến Phan lung (thuộc Bình thuận) giữ được chừng
    một phần năm đất Chiêm cũ mà xưng là Chiêm thành vương,
    sai sứ xưng thần phụng cống. Vua bèn đi kinh lý đến núi
    Thạch bi (thuộc phủ Tuy hoà, tỉnh Phú yên) dựng bia định địa
    giới ở núi ấy (bia ấy nay hãy còn, nhưng mòn quá không
    trông rõ chữ). Còn từ núi Cầu mông (thuộc huyện Đồng

    xuân, tỉnh Phú yên) trở về phía nam thì ưng phong cho Bô tri
    trì làm vua Chiêm thành, giữ đất để cung chức cống ; lại
    phong thêm hai vua Hoa anh Nam bàn và chia ra làm 3 nước
    để dàng buộc lẫn nhau.
    Trận bình-Chiêm này, quân thanh của ta lừng lẫy xa gần,
    khi đại quân khải hoàn, những thổ tù ở các động mán đều
    đua nhau đem đồ trâu bảo tiến cống. Trà Toàn bị giải về đến
    sông Thiên phái thì lo sợ mà chết, vua sai chém đầu bêu ở
    đầu thuyền.
    Thế là bước đường nam tiến của dân tộc ta sau trận này
    thì đã tiến đến biên giới phía bắc tỉnh Phú yên rồi vậy.
    Tháng 6 năm ấy (1471), vua Lê Thánh Tôn lấy đất
    Chiêm-thành mà đặt làm Quảng-nam thừa-tuyên và vệ
    Thăng hoa, và đặt ra Quảng nam tam ty.
    Năm Hồng đức thứ 3 (1472) em Trà Toàn là Trà Toại trốn
    vào trong núi, rồi sai sứ cáo nạn với nhà Minh và xin phong.
    Vua Thánh tôn sai Lê Niệm đem binh đuổi theo bắt được Trà
    Toại, hơn 30 năm rồi chết ở đó.
    Năm thứ 21 (1490) định bản đồ trong nước thì thừa
    tuyên Quảng nam lĩnh 3 phủ 9 huyện : 1. Phủ Thăng hoa
    thống 3 huyện Lê giang, Hy giang, Hà đông. 2. Phủ Tư nghĩa,
    thống 3 huyện Nghĩa giang, Bình dương, Mộ hoa (nay Quảng
    nghĩa) 3. Phủ Hoài nhân, thống 3 huyện Bồng sơn Phù ly,
    Tuy viễn, (nay Bình định). Thời vua Lê Hiến tôn, con Trà Toại
    Trà Phúc lấy trộm hài cốt cha trốn về nước rồi sai người sang
    nhà Minh cầu cứu đóng thuyền bè chứa lương để đồ phản
    kháng. Đòi vua Uy mục bắt được mấy người Chiêm ở ngoài

    bể, tra biết mưu ấy, bèn sai Lý tử Vân vào kinh lý Quảng
    nam để phòng bị, việc ấy mới yên.
    Đến đời họ Nguyễn làm chúa phía nam, Chiêm thành vẫn
    thần phục, sau lại thường hay quấy nhiễu ngoài ven. Năm
    Tân-hợi (1611), Gia dụ vương sai chủ sự là Văn Phong lĩnh
    binh đi đánh, chiếm lấy đất đặt làm phủ Phú-an, lĩnh 2 huyện
    Đồng xuân Tuy hoà (nay tức là tỉnh Phú-an), rồi sai Văn
    Phong lưu thủ đất ấy. Đến đời Sĩ vương, Văn Phong làm
    phản. Sĩ vương sai phó tướng là Nguyễn-phúc-Vĩnh giẹp tan
    được rồi lập đất ấy làm doanh Trấn biên.
    Thời Hiền vương, vua Chiêm-thành là Bà tấm xâm vào
    Phú-an, vương sai cai cơ là Hùng Lộc làm thống binh, sá sai
    là Minh Võ làm tham mưu, lĩnh 3000 quân đi đánh Hùng lộc
    tiến binh qua núi Thạch bi, kéo thẳng đến thành, thừa lúc
    ban đêm phóng hoả đánh phá. Bà tấm phải chạy đi trốn.
    Quân ta chiếm đất đến sông Phan giang (1656), rồi lấy ở
    phía đông sông ấy đặt ra hai phủ Thái khang (nay Ninh hoà),
    Diên Ninh (nay Diên khánh, phủ Thái khang thống 2 huyện
    Quảng phúc, Tân định, phủ Diên ninh thống 3 huyện. Phúc
    điền, Quảng xương, Hoa châu, lập ra doanh Thái khang ở
    Nha trang (nay là tỉnh thành Khánh hoà) để thống trị. Còn
    phía tây sông ấy thì giả lại cho Chiêm thành, bắt phải hàng
    năm vào cống hiến.
    Thời Minh vương năm 1691, vua Chiêm là Bà tranh lại
    vào quấy nhiễu phủ Diên ninh. Vương sai Nguyễn hữu-kính
    làm Thống binh đi đánh, bắt được Bà tranh và bọn bề tôi là
    Kế bà tử và bọn thân thuộc là Nương-my Bà-ân đem về giam
    ở núi Ngọc chản, đổi nước Chiêm thành đặt là trấn Thuận

    thành. Vương lại sai Nguyễn-tri-Thắng giữ Phố-hài, Nguyễntán-Lễ giữ Phan-lý, Chu-kiêm-Thắng giữ Phan-lang để phòng
    những dư đảng Thuận thành. Sau lại đổi làm phủ Bình thuận
    cho đến Kế-bà-tử làm Khánh lý và cho ba con của Bà-ân làm
    Đề-Đốc, Đề-lĩnh, Cai phủ, bắt phải vận mặc theo kiểu ta, rồi
    cho về để cai trị lấy dân.
    Tháng chạp năm ấy, người Tàu tên là A-ban cùng với
    người Chiêm thành là Ô-nha-trát nổi loạn, Minh-vương sai
    Nguyễn-hữu-Kính cất quân vào giẹp tan được đám ấy. Kế-bàtử kêu rằng : « Từ khi thay đổi chính-trị đến nay, mùa màng
    mất luôn, nhân dân thì sinh ra tật dịch ». Vương thương tình,
    bèn lại phong cho Kế-bà-tử làm Thuận-thành-trấn phiênvương để phủ trị lấy binh dân mà hàng năm phải vào nộp
    cống.
    Những người ngựa và kiếm ấn trước bắt được cũng giả
    cho cả. Lại cấp 30 tên lính kinh để bảo hộ giúp cho. Năm
    Chính hoà thứ 18 (1697) mới lại lấy đất của Thuận-thành
    vương mà đặt làm phủ Bình-thuận, lấy đất Phan-lý Phan-lang
    đặt làm 2 huyện An-phúc Hoà-đa. Từ đó Chiêm thành mất
    hẳn về bản đồ nước ta vậy. Đó là bước nam tiến của dân ta
    đã đến hết đất Trung-kỳ giáp đất Nam-kỳ.
    Nghĩ như Chiêm-thành cũng là một nước khai hoá rất
    sớm đã từng sản xuất ra những bậc người tài hùng lược lớn
    làm cho nước ta đôi phen ăn không ngon ngủ không yên ;
    thế mà hay đâu lần lần về sau đến nỗi phải táng quốc diệt
    chủng ! Xét ra cớ đó chỉ vì dân họ không biết tự cường tự
    phấn, vì họ chịu ở dưới cái chính thể quân chủ chuyên chế,
    việc nước hay dở đều mặc kệ ở lũ vua quan. Thế mà vua

    quan về sau chỉ thấy sản xuất những mặt đớn hèn, lúc bình
    thường không chịu tu tỉnh cho nội lực được đầy đủ rồi rào,
    đối với trong thì áp chế bậy, đối với ngoài thì hóc hách sằng,
    quân ngoài vừa kéo đến nơi đã luỹ vỡ thành tan, cắt đất bồi
    khoản, ngày nay mất một khu, sang năm mất một hạt, trách
    nào mà dần dần chẳng nước mất giống cũng không còn. Ta
    chép đến đây luống những vì người Chiêm mà phàn nàn ái
    ngại. Trong cuộc sinh tồn cạnh tranh, khoẻ sống yếu chết,
    coi đó mà cũng đáng ghê thay ! cũng đáng sợ thay !
    Xét tục Chiêm-thành, người nào cũng lấy chiên quấn vào
    bụng, bỏ giọt dài xuống tới chân. Vạt tay áo đều hẹp. Đầu
    búi tóc mé sau để xoã ra. Vua mặc áo Cát bối, đội mũ bông
    vàng, rủ tua thất bảo. Đùi vế đều để hở, chân đi giày nhưng
    không có tất miệt. Đàn bà cũng búi tóc mái sau, không cài
    trâm. Vua mỗi ngày về buổi chưa ngồi ghế thiền ỷ, quanthuộc vào yết kiến chỉ vái một vái, tâu việc xong lại vái một
    vái rồi ra. Mỗi khi vua đi chơi tất đến vài ngày mới về. Đi gần
    thì ngồi cái ghế vải, đi xa thì cỡi voi hoặc ngồi vào một cái
    chóng cho 4 người rước. Sai một người bưng mâm con đi
    trước, đằng sau cho độ vài chục người đi theo, tay cầm cung
    tên gươm dáo. Dân trông thấy vua đều p...
     
    Gửi ý kiến

    Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS NGUYỄN DU - BẮC TRÀ MY - QUẢNG NAM!