Video hoạt động của Trường THCS Nguyễn Du - Bắc Trà My
dien-bien-phu-170-ngay-dem-bi-vay-ham

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 15h:16' 01-05-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 4
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 15h:16' 01-05-2024
Dung lượng: 2.2 MB
Số lượt tải: 4
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Lời giới thiệu
Bản đồ cứ điểm Điện Biên Phủ - 1954
Lịch chiến sự
Cuộc hành quân Castor
Cuộc hành trình
Bãi nhảy dù Natacha
Ngày N + 2
Thung lũng con hải ly
Cuộc hành quân Pollux
Lễ Noel ở Điện Biên Phủ
Căn cứ lục – không quân
Những đỉnh đồi phía đông
Chiến hào bao vây Beatrice
Trước trận đánh
Bão lửa
Trận Beatrice
Him Lam
Đợt ngừng bắn
Pháo Điện Biên Phủ
Trên cứ điểm Gabrielle
Trận đấu
Đêm Gabrielle
Bình minh trên Gabrielle
Trận phản kích
Gabrielle tắt thở
Nỗi cô đơn của Langlais
Bắn tỉa
Thảm họa
Những khẩu súng cao xạ
Dominique
Trung úy Brunebroucke
Đêm Eliane
Huguette 7
Quả đồi thứ 5
Huguette 6 hấp hối
Mương thoát nước
Ngày lại ngày
Giành lại Eliane 1
Những ngôi sao cấp tướng
Cụm Huguette nghẹt thở
Tình nguyện nhảy dù
Lễ Camerone ở Điện Biên Phủ
Đợt tiến công thứ ba
Eliane 1 chết lần thứ hai
Số phận tiểu đoàn 1
Đường hầm Eliane 2
Buổi sáng cuối cùng
Kết thúc
Phụ lục:
Điện Biên Phủ - 170 ngày đêm bị vây hãm
Tác giả: Erwan Bergot
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời giới thiệu
Cho tới nay, nhân dân ta vẫn quen với khái niệm chiến dịch Điện
Biên Phủ kéo dài 56 ngày đêm, kể từ khi ta bắt đầu nổ súng tiến
công tập đoàn cứ điểm của Pháp vào ngày 13 tháng 3 năm 1954, và
kết thúc vào ngày 7 tháng 5 năm 1954 khi toàn bộ các lực lượng
Pháp ở đây buông súng đầu hàng.
Tuy nhiên, đối với quân đội viễn chinh Pháp thì Điện Biên Phủ là
một cơn ác mộng kéo dài, kể từ ngày 20 tháng 11 năm 1953 là khi
mới bắt đầu nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh đã lập tức bị
bộ đội và nhân dân địa phương đón đánh, tiếp đó là gần nửa năm bị
vây hãm, bị tập kích, phục kích mà đỉnh cao là những trận đánh liên
tục kéo dài từ ngày 13 tháng 3 đến 7 tháng 5 và hoàn toàn kết thúc
vào ngày 8 tháng 5 khi những đơn vị đóng tại Hồng Cúm thuộc phân
khu phía Nam định tháo chạy sang Lào nhưng đã bị chặn đánh và
tiêu diệt hết, tổng cộng là 170 ngày tất cả.
Chính vì những lẽ đó nên Erwan Bergot, một trung úy có mặt tại
Điện Biên Phủ từ những ngày đầu đã trải qua gần sáu tháng sống
trong cảnh căng thẳng, hãi hùng, khốn đốn tại Điện Biên Phủ, cuối
cùng bị bắt làm tù binh rồi được phóng thích, đã viết cuốn sách này
và được Nhà xuất bản Presses de la Cité ở Paris, Phap, xuất bản
năm 1979 , sau đó được nhiều lần tái bản.
Theo giới thiệu của Nhà xuất bản Presses de la Cité, Erwan Bergot
đã bỏ ra nhiều năm sưu tầm tài liệu, gặp gỡ các bạn chiến đấu cũ,
ghi lại « nhiều chứng cứ của những người còn sống sót để dựng lại
một bức tranh sinh động và bi thảm trải dài suốt 170 ngày đêm, từ
việc xây dựng tập đoàn cứ điểm , tổ chức các vị trí phòng ngự đến
các trận đánh, nhưng trước hết là tinh thần, tình cảm của những
người lính chiến đấu. Chính họ là những nhân chứng không thể bác
bỏ. Họ là những người đứng ở vị trí hàng đâu”.
Bản dịch tiến Việt được thể hiện bởi dịch giả Lê Kim, người cũng
từng là một chiến sĩ Điện Biên chiến đấu trong sư đoàn 308 năm
xưa.
Nhà xuất bản Công an nhân dân
Bản đồ cứ điểm Điện Biên Phủ - 1954
Lịch chiến sự
1953
12 -11 : Bộ tư lệnh chiến trường Bắc Bộ do tướng Cogny chỉ huy
thông qua quyết định mở cuộc hành quân Castor nhảy dù chiếm
đóng Điện Biên Phủ. Bản kế hoạch hành quân được Tổng tư lệnh
Đông Dương Navarre phê chuẩn.
20 – 11 : Cuộc hành quân Castor bắt đầu. Tiểu đoàn dù thuộc địa số
6 do Bigeard chỉ huy nhảy dù xuống bãi Natacha, cánh đồng Mường
Thanh, phía Tây Bắc Bản Kéo. Tiểu đoàn dù số 2 do Bréchignac chỉ
huy thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 nhảy xuống bãi Simone cách
Bản Kéo 4 kilômét về phía Nam. Tiểu đoàn dù số 1 do Souquet chỉ
huy và ban chỉ huy lực lượng nhảy dù do Fourcade chỉ huy kết thúc
cuộc nhảy dù trong ngày.
21 – 11 : Cuộc hành quân Castor tiếp tục với tiểu đoàn dù lê dương
số 1 do Guiraud chỉ huy và tiểu đoàn dù thuộc địa số 8 của Tourret
cùng với bộ phận hỗ trợ của Molinier.
22 – 11 : Tiểu đoàn dù lính Việt do Leclerc chỉ huy kết thúc cuộc
hành quân Castor. Điện Biên Phủ có 4.560 binh sĩ chiếm đóng.
23 – 11 : Bắt đầu cuộc hành quân Pollux rút khỏi Lai Chua.
8 – 12 : Tiểu đoàn 2 bộ binh lính Thái tới Điện Biên Phủ.
10 - 12 : Các tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, tiểu đoàn dù thuộc địa số
6, tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 được đưa trở về
Hà Nội ( từ 2 -12).
15 – 12 : Thêm một số đại đội lính Thái tới Điện Biên Phủ.
16 – 12 : Tiểu đoàn dù lính Việt số 5 được đưa từ Điện Biên Phủ trở
lại Hà Nội bằng máy bay.
Từ 15 đến 20 – 12 : Các tiểu đoàn số 1 và số 3 thuộc bán lữ đoàn lê
dương số 3 và những đơn vị đầu tiên của binh đoàn cơ động số 9 do
Gaucher chỉ huy được máy bay đưa lên Điện Biên Phủ.
Từ 23 đến 28 – 12 : Tiến hành cuộc hành quân Regates với tiểu
đoàn dù lê dương số 1 và tiểu đoàn dù xung kích số 8 thuộc binh
đoàn đổ bộ đường không số 2 tiến công thăm dò từ Sốp Nạo đến
Mường Khoa trên lãnh thổ Lào.
29 – 12 : Tiếp tục vận chuyển bằng cầu hàng không lên Điện Biên
Phủ : tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn bộ binh Angiêri số 7 và tiểu đoàn
3 thuộc trung đoàn pháo binh thuộc địa số 10 cùng với một đại đội
xe tăng Shaffee.
1954
Từ 1 đến 10 – 1 : Cầu hàng không tiếp tục đưa lên Điện Biên Phủ :
tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn bộ binh lê dương số 3 và bộ phận đầu
của binh đoàn cơ động số 6 gồm : tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bộ
binh Angiêri số 2 và tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bộ binh lê dương
số 2.
Từ tháng 1 đến tháng 2 : Hoàn chỉnh việc xây dựng các cụm cứ
điểm xếp theo thứ tự A, B, C .. mang tên : Anne Marie , Beatrice ,
Cladine, Dominique , Eliane, Francoise , Gabrielle , Huguette ,
Isabella .
Từ 12 đến 16 – 2: Hành quân thăm dò các mỏm đồi phía Đông với
sự tham gia của tiểu đoàn dù lê dương số 1, tiểu đoàn 3 thuộc trung
đoàn bộ binh lê dương số 3, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn bộ binh
Angiêri số 3, tiểu đoàn lính Thái số 3, tiểu đoàn dù xung kích số 8,
tiểu đoàn 1 thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13.
Từ 10 đến 13 – 3 : Tiến công phòng ngự và phản kích lấp các chiến
hào do Việt Minh đào lấn bao vây cụm cứ điểm Beatrice gần bản
Him Lam.
13 – 3 : Sư đoàn 312 Việt Minh tiến đánh Beatrice lúc chập tối. Đến
2 giờ sáng, cụm cứ điểm bị thất thủ.
14 – 3 : Hai bên ngừng bắn từ 8 giờ đến 12 giờ để thu nhặt thương
binh.
Tiểu đoàn dù lính Việt số 5 nhảy xuống tăng viện cho Điện Biên
Phủ.
17 giờ : Sư đoàn 308 Việt Minh tiến đánh Gabrielle.
15 – 3 : Tổ chức phản kích giành lại Gabrielle bằng hai đại đội lính
dù lê dương, tiểu đoàn 5 kính dù người Việt và một tiểu đội xe tăng.
Đến 8 giờ cuộc phản kích bị chặn lại. Gabrielle coi như hoàn toàn bị
thất thủ vào 8 giờ sáng.
16 – 3 : Tiểu đoàn 6 lính dù thuộc địa do Bigeard chỉ huy nhảy
xuống tăng viện.
Đầu giờ buổi chiều hai đại đội lính Thái đóng ở Anne Marie 1 và
Anne Marie 2 gần Bản Kéo bỏ đồn, đào ngũ.
17 – 3 : Một đại đội thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 cố chiếm lại
Anne Marie 1 và Anne Marrie 2 nhưng không đạt kết quả.
18 – 3 : Việt Minh bắn pháo vào các cụm cứ điểm và sân bay. Hai cứ
điểm còn lại ở Bản Kéo là Anne Marie 3 và Anne Marie 4 được lệnh
sát nhập với cụm cứ điểm bảo vệ sân bay, đổi tên thành Huguette 6
và Huguette 7 . Một đại đội lính dù người Việt do Rondeaux chỉ huy
được điều động đóng giữ Huguette 7 thay cho lính Thái đưa về khu
Trung tâm.
19 – 3 : Hai máy bay Dkota hạ cánh xuống đường băng sân bay, bị
pháo bắn , chỉ một chiếc hoàn thành nhiệm vụ.
20 – 3 : Pháo tiếp tục bắn vào sân bay. 5 chiếc Dakot đã hạ cánh và
cất cánh an toàn.
21 – 3 : Nhiều cuộc giao tranh ác liệt trong đoạn đường từ khu Trung
tâm đến phân khu Nam, nơi đặt cụm cứ điểm Isabelle.
24 – 3 : Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 đụng độ với địch ở khu vực
giữa cụm Claudine trên dãy đồi phía Đông với Isabelle thuộc phân
khu Nam.
25 – 3 : Pháo Việt Minh đặt ở Bản Kéo bắn vào Huguette 7 bảo vệ
đầu đường băng sân bay.
Tiểu đoàn dù xung kích số 8 đụng độ với Việt Minh ở khu vực giữa
các cứ điểm Dominique 1 và 2, phía Đông phân khu Trung tâm.
26 – 3 : Hành quân giải vây cho Huguette 7 bằng tiểu đoàn dù lê
dương và tiểu đoàn dù lính Việt. Trung úy Rondeaux bị thương. Đại
úy Bizard được cử thay thế.
27 – 3 : Các đơn vị liên tục cho quân ra lấp các chiến hào do Việt
Minh đào lấn bao vây cứ điểm.
Thánh lập thêm cứ điểm Opera ở phía Đông sân bay do một đại đội
thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 đóng giữ.
28 – 3 : Các lực lượng ứng chiến từ phân khu Trung tâm mở cuộc
hành quân ra phía Tây nhằm tiêu diệt các khẩu pháo cao xạ Việt
Minh đặt tại bản Ong Pẻ và gần bản Pe. Tiểu đoàn dù thuộc địa số
6 mở đầu cuộc tiến công, tiếp theo là tiểu đoàn dù xung kích số 8.
Tiểu đoàn dù lê dương đi sau tiếp ứng. Tiểu đoàn bộ binh lê dương
số 1 làm nhiệm vụ hỗ trợ khi rút quân trở về. Các xe tăng từ Isabella
cùng đi để yểm trợ hỏa lực.
29 – 3 : Một cứ điểm mới, mang tên Eliane 4 được thành lập do các
đơn vị rút từ tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 và tiểu đoàn dù lính Việt số
5 cùng đóng giữ.
Việt Minh xiết chặt vòng vây quanh các đồi phía Đông.
30 – 3 : Trung tá Langlais đi kiểm tra các cụm cứ điểm mang tên
Dominique và Eliane, quyết định đưa đại đội 4 lính dù người Việt
đến đóng tại Dominique 1 và tăng cường thêm cho Eliane 2 một đại
đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương số 1.
Các đơn vị tăng cường chưa kịp tới vị trí, Việt Minh đã mở cuộc tiến
công.
Pháo chuẩn bị của Việt Minh bắt đầu bắn từ 17 giờ 30 phút. Một
khẩu 155 và bốn khẩu 105 bị pháo Việt Minh phá hủy ngay trong
hầm đặt pháo. 18 giờ 45, bộ đội Việt Minh bắt đầu xung phong,
nhanh chóng chiếm lĩnh Eliane 1 và Dominique 2. Đến 21 giờ, Việt
Minh chiếm thêm Dominique 1 nhưng bị chặn lại trước Dominique 3.
Tại Eliane 2 ( trên đồi A1) lính lê dương và lính Marôc bị đánh bật
khỏi một số vị trí nhưng vẫn bám giữ.
22 giờ, sư đoàn 308 Việt Minh tiến công Huguette 7. 24 giờ , sư đoàn
316 Việt Minh bám chân được vào khu đất dưới chân Eliane 2, mang
tên Champs Elysees, nhưng vẫn không chiếm được đỉnh đồi A1.
31 – 3 : Huguette 7 bảo vệ đường băng vẫn giữ vững.
Eliane 2 bảo vệ khu Trung tâm sau khi nhận được tất cả các lực
lượng ứng cứu có thể huy động, vẫn tiếp tục chống cự.
10 giờ sáng, tiểu đoàn dù xung kích số 8 và tiểu đoàn dù thuộc địa
số 7 cố giành lại Dominique 2 và Eliane 1 nhưng không thành công,
phải rút về sau khi bị thiệt hại nặng vào lúc 15 giờ.
17 giờ, Việt Minh tiếp tục tiến đánh Eliane 2 nhưng cứ điểm vẫn giữ
vững sau suốt một đêm chống cự ác liệt.
1 – 4 : Tiểu đoàn dù lê dương số 1 và một đại đội của tiểu đoàn dù
xung kích số 8 chiếm lại được Champs Elysees.
Huguette 7 bị bắn pháo dữ dội. Bizard tạm thời dẫn một bộ phận rút
khỏi cứ điểm nhưng đến tờ mờ sáng hôm sau họ quay trở lại, chiếm
lại toàn bộ các vị trí. Đến 10 giờ, đại đội bộ binh lê dương do Spozio
chỉ huy tới thay thế đơn vị Bizard, chiếm đóng Huguette 7.
Trong ngày, những binh lính còn sống sót thuộc tiểu đoàn 1, trung
đoàn bộ binh Marôc số 4 tập hợp tại một cứ điểm vừa được thiết
lập, mang tên Lily nằm ở khu vực giữa cụm Huguette và cụm
Claudine.
17 giờ, sư đoàn 316 tiếp tục tiến đánh Eliane 2. Các lính dù lê
dương, lính dù hỗn hợp Pháp – Việt, lính dù thuộc địa, lính dù xung
kích, lính bộ binh lê dương, lính bộ binh Marôc luân phiên chiến đấu
chống cự suốt 36 giờ liên tục.
Ở phía Tây, Huguette 7 bảo vệ đầu đường băng bị Việt Minh chiếm
vào lúc 21 giờ. Mười hai lính lê dương còn sống sót chạy về được
khu Trung tâm.
2 – 4 : Tiểu đoàn số 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 bắt đầu
nhảy xuống Điện Biên Phủ, do Bréchignac chỉ huy.
Cho tới rạng sáng Eliane 2 vẫn giữ vững. Nhưng cứ điểm mang tên
Francoise nằm lẻ loi ở phía Tây, do lính Thái đóng giữ đã “bốc hơi”
trong đêm.
Huguette 7 bị mất. Huguette 6 trở thành tiền đồn bảo vệ đường
băng sân bay tiếp tục bị Việt Minh tiến công.
Tiểu đoàn số 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 tiếp tục nhảy
xuống Điện Biên Phủ. Ban chỉ huy tiểu đoàn đặt tại Eliane 4. Lính dù
người Việt trong cứ điểm đặt dưới sự chỉ huy của Bréchignac.
3 – 4 : Eliane 2 vẫn giữ vững sau 90 giờ chiến đấu ác liệt.
Buổi tối, Huguette 6 tiếp tục bị tiến đánh. Đại đội do Desmons chỉ
huy thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 tiến theo đường mương thoát
nước của sân bay đánh tạt ngang sườn quân địch. Việt Minh phải rút
lui.
Đơn vị cuối cùng thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1,
nhảy xuống phân khu Trung tâm.
4 – 4 : Vào lúc rạng sáng. Việt Minh tự động rút khỏi Champs Elyees
( ở chân Eliane 2) . Cuộc chiến đấu liên tục trên đồi Eliane 2 kéo dài
suốt 107 giờ, coi như tạm chấm dứt.
Trong khi đó, cuộc chiến đấu giành giật các cứ điểm Huguette bảo
vệ đường băng sân bay lại bắt đầu : vào lúc gần nửa đêm, bốn tiểu
đoàn Việt Minh có pháo nặng yểm trợ lực xung phong đánh chiếm
Huguette 6. Đại đội Bailly thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 xuất
phát từ Opera đến ứng cứu bằng cách tiến quân theo mương thoát
nước nhưng được nửa đường thì bị chặn lại. Đại đội Clédic thuộc
tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 vừa nhảy xuống trong đêm
trước, đánh thẳng vào đường băng, buộc một tiểu đoàn Việt Minh bố
trí ở điểm nút phải rút lui.
5 – 4 : Buổi sáng, đơn vị Clédic có thêm một đại đội do Le Page chỉ
huy thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 tăng cường hoàn thành việc
chiếm lại Huguette 6.
Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 do Minaud chỉ huy
tới thay cho đơn vị Clédic rút về phía sau, chuyển thành lực lượng
dự bị.
Từ 6 đến 8 – 4 : Đại đội Bizard thay Minaud giữ Huguette 6.
Việc bảo vệ Eliane 2 được giao cho tiểu đoàn 1 thuộc bán lữ đoàn lê
dương số 13 đảm nhiệm, do thiếu tá Coutant chỉ huy.
Từ 9 đến 10 – 4 : Chiến hào Việt Minh hoàn toàn vây chặt cụm cứ
điểm Huguette 6. Lực lượng ứng cứu di Trapp và Le Page chỉ huy
mở cuộc hành quân chiếm lại Eliane 1. Buổi tối, Charles và Minaud
dẫn tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 tới thay quân.
Việt Minh lại tiến đánh. Bigeard tung hai đại đội dù lê dương do
Martin và Brandon chỉ huy, có hai đại đội dù người Việt do
Guilleminot và Phạm Văn Phú tiến theo trợ lực. Đến rạng sáng, lại
đưa thêm một đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương số 2 do Lecour
Grandmaison đến tăng cường thêm, nhằm chống lại cuộc tiến công
của Việt Minh.
Từ 11 đến 12 – 4: Eliane 1 vẫn giữ vững.
Hoàn thành việc thả dù toàn bộ tiểu đoàn 2 lính dù lê dương.
Những lính dù thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 còn
sống sót trên cứ điểm Eliane 1 được sát nhập vào đại đội do thiếu
úy Leguerre chỉ huy.
Từ 12 đến 13 – 4 : Huguette 6 bị pháo bắn dữ dội. Việc tiếp tế lương
thực, đạn dược và nước uống rất khó khăn.
14 – 4 : Việt Minh đã chiếm được một phần ba đường băng sân bay.
Huguette 6 vẫn cố giữ.
Eliane 1 và Eliane 2 tiếp tục chống cự.
15 – 4 : Hai đại đội xuất phát từ Opera lấp các chiến hào do Việt
Minh đào bao vây Huguette 6.
Từ 16 đến 17 – 4 : Phải huy động tới một tiểu đoàn lính chiến đấu
để bảo vệ cho số phu mang lương thực, đạn dược, nước uống cho
Huguette 6.
Một giờ sáng, địch bất ngờ tiến công Eliane 1.
Các đại đội dưới sự chỉ huy của Clédic và Periou tổ chức đánh chặn.
17 – 4 : Chỉ huy trưởng De Castries quyết định rút bỏ Huguette 6.
Từ đêm 17 đến 18 – 4 : Tiểu đoàn dù lê dương số 1 được lệnh mở
đường tiến qua hệ thống chiến hào bao vây của Việt Minh đón đơn
vị Bizard rút khỏi Huguette 6. Được nửa đường thì vấp phải một tiểu
đoàn Việt Minh, không sao tiến được nữa.
Đến 10 giờ, Bizard quyết định tự phá vây và đã rút về được
Huguette 1 nhưng bị thương vong tới 70% quân số.
18 – 4 : Đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1 bán lữ đoàn lê dương số 13, do
Chevalier chỉ huy được lệnh thay quân cho đơn vị bộ binh lê dương
đang đóng tại Huguette 1.
19 – 4 : Sau một đêm chiến đấu, Chevalier đã tới được Huguette
thay Spozio. Nhưng khi, dẫn quân trở về khu Trung tâm, Spozio bị
tiêu hao tới một nửa số quân còn lại.
20 – 4 : Khoảng 100 lính “tình nguyện” chưa có bằng tốt nghiệp
nhảy dù, nhảy liều xuống Điện Biên Phủ.
21 – 4 : Sau một đêm tương đối yên tĩnh, Việt Minh lại tiến đánh
Huguette 1 nhưng không đạt kết quả.
Đêm 22 rạng 23 – 4 : Cứ điểm Huguette 1 bị tiến công từ mọi phía.
Đến 1 giờ sáng liên lạc điện thoại với Chevalier hoàn toàn bị cắt đứt.
23 – 4 : De Castries quyết định giành lại Huguette 1.
Hồi 11 giờ trưa, tiêu đoàn dù lê dương số 2 được lệnh phản kích. Hai
đại đội xuất phát từ phía Nam Huguette 2 và hai đại đội từ phía Tây
Opera cùng tiến về Huguette 1. 16 giờ , cuộc phản kích bị Việt Minh
đánh lui.
24 – 4 : Tổ chức lại hệ thống phòng ngự. Opera bị rút bỉ. Lính trong
cứ điểm hợp nhất với đơn vị đang đóng tại Huguette 2.
25 – 4 : Việt Minh tiến đánh Epervier ( là một cứ điểm ở phía Nam
Opera ). Các hầm hố trong cứ điểm đều ngập đầy bùn vì mưa suốt
đêm.
Từ 26 đến 30 – 4 : Pháo bắn liên tục. Việt Minh tiếp tục đào hào bao
vây Huguette 4 và Huguette 5.
Trong bốn đêm liền, khoảng 300 lính tình nguyện nhảy dù xuống
Điện Biên Phủ.
Từ 1 đến 2 – 5 : 17 giờ, pháo Việt Minh bắt đầu bắn chuẩn bị, mạnh
nhất và kéo dài nhất kể từ ngày bắt đầu chiến dịch. Pháo bắn suốt
ba tiếng đồng hồ.
Từ 20 giờ 30, Eliane 1 và Eliane 2 bắt đầu bị bộ đội Việt Minh xông
vào cứ điểm. Khoảng tờ mờ sáng, Eliane 1 vị Việt Minh hoàn toàn
chiếm lĩnh, Eliane 2 vẫn tiếp tục chống cự.
Ở mặt phía Tây, sau khi tiến công thăm dò Huguette 4 và Lily, Việt
Minh bắt đầu tiến đánh Huguette 5. Đến 3 giờ sáng, Huguette 5 bị
chiếm lĩnh. Một cuộc phản kích từ Huguette 2 đánh sang bị Việt
Minh chặn đứng ngay trước lớp hàng rào kẽm gai của Huguette 5.
Đêm 2 rạng sáng 3 – 5 : Việt Minh tiếp tục tiến công gây sức ép ở
mặt Đông, nhằm vào Eliane 2 và Dominque 3.
Ở mặt Tây, sức ép của Việt Minh nhằm vào Huguette 4.
Rạng sáng, Dominique 3 bị chiếm lĩnh.
Đêm 3 rạng 4 – 5 : Pháo bắn suốt đêm.
Đại đội 2 thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 nhảy xuống ngay khu
vực đặt sở chỉ huy Trung tâm, lập tức được đưa ngay lên Eliane 2 là
nơi tiểu đoàn 1 thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13 đã chiến đấu suốt
72 giờ.
Việt Minh đào một đường hầm dưới Eliane 2 đặt thuốc nổ.
4 – 5 : Đại đội 3 thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 tới tiếp viện cho
đại đội 2 đóng tại Eliane 2 vào lúc rạng sáng. Tiểu đoàn 1 thuộc bán
lữ đoàn lê dương số 13 tuần tự rút lui.
5 – 5 : Trời mưa cản trở việc thả dù. Chỉ có khoảng gần hai trung đội
nhảy được xuống Điện Biên Phủ.
Việt Minh củng cố các vị trí đã chiếm được tại Eliane 1 và
Domonique 3.
6 – 5 : Việt Minh tiếp tục tiến công Eliane 2 vào lúc gần tới đêm.
Từng tiểu đoàn tiến đánh theo nhịp độ nửa giờ rồi lại thay bằng tiểu
đoàn khác. Khoảng 23 giờ khối thuốc nổ trong đường hầm dưới cứ
điểm Eliane 2 phát nổ, chôn vùi đại đội 2 của tiểu đoàn dù thuộc địa
số 1.
Đại đội 3 tổ chức phản kích, đến 3 giờ sáng chiếm lại được đỉnh đồi.
7 – 5 : Eliane 4 bị tiến công. Botella và Bréchignac không thấy trả lời
qua điện đài.
Việt Minh quay trở lại tiến công. Eliane 2 sau khi đã chiếm được
Eliane 4. Đến 5 giờ sáng, Eliane 2 hoàn toàn bị Việt Minh chiếm lĩnh.
7 giờ sáng, Eliane 10 ở dưới chân Eliane 2 cũng bị chiếm.
8 giờ sáng, phần lớn các điểm tựa ở phía Đông bảo vệ cho sở chỉ
huy Trung tâm đều nằm trong tay Việt Minh.
Ở mặt Tây, Huguette 4 bị chiếm.
17 giờ 30 tiếng súng chấm dứt tại Điện Biên Phủ.
Cuộc hành quân Castor
20 – 11 – 1953
Máy bay từ từ lấy độ cao. Nhìn xuống phía dưới, bên phải là quầng
sáng màu vàng của dãy đèn ọc cầu Dourmer ( nay là cầu Long Biên)
soi rõ mặt nước sông Hồng. Tòa Nhà hát lớn, lờ mờ trong bóng tối
vẫn nổi bật ở đầu phố Paul Bert ( Phố Tràng Tiền ).
Máy bay tiếp tục lên cao . Hà Nội vẫn còn hiện rõ từng điểm vói
những đường phố và đại lộ có những cột đèn điện chiếu sáng giao
nhau theo hình thước thợ. Đây là ngã tư phố Gia Long ( phố Bà
Triệu) với khách sạn Ritz nổi bật như một khối hình hộp màu trắng
trên nền đường màu đen, kia là nhà ga nằm ở đại lộ De Lattre (
đường Lê Duẩn), ngay đầu đường Gambetta ( đường Trần Hưng
Đạo) có nhiều cây cao lá rậm. Xa hơn nữa về phía chân trời, có thể
đoán được vùng châu thổ đang chìm trong sương lam ở phía sau,
còn phía trước là đỉnh núi Tam Đảo màu đen trên nền trời đang sáng
dần của ánh bình minh.
Đó là bốn giờ ba mươi phút sáng 20 tháng 11 năm 1953. Chiếc
Dakota số 356 trong phi đội số 2 của lực lượng không quân vận tải
64 mang tên Anjou đang tiếp tục cuộc hành trình trên những đám
mây dày che phủ lưng chừng núi Ba Vì ở phía Tây.
Chiếc Dakota vẫn bốc cao mãi. Cho tới khi lên tới đỉnh tột cùng theo
quiđịnh là 4.000 mét, lúc đó mới rẽ ngoặt 290 0 . Lúc này, máy bay
đang trên vùng trời Sơn Tây, nơi sông Hồng chảy xuôi về phía châu
thổ.
Trong khoang máy bay, nhiệt độ xuống thấp. Mọi người phải mặc
thêm một chiếc áo nịt bông bên ngoài chiếc áo trậ. Riêng tướng
Gilles vẫn chỉ mặc bộ đồ len Kaki. Ông chủ đoàn quân nhảy dù cau
lông mày, nheo con mắt duy nhất còn lại, nhìn những đám mây đang
như bị luồng gió cánh quạt máy bay cuốn hút. Thỉnh thoảng, ông lại
rút từ túi áo ngực ra một chiếc khăn tay nhỏ, lau vành mi đang ứa
nước từ chiếc mắt giả bằng thủy tinh.
Trước mặt tướng Gilles, chỉ huy đoàn quân đổ bộ đường không, là
tướng Dechaux, Tư lệnh lực lượng không quân chiến thuật miền
Bắc Đông Dương, gọi tắt là GATAC – NORD. Tướng Dechaux cũng
đang nóng lòng sốt ruột cúi nhìn ra phía ngoài, ngang tầm với mẩu
thuốc lá đã hút xong nhưng vẫn còn ngậm trên môi của tướng
Bodet, phó của Tổng tư lệnh Đông Dương Navarre.
Phó tổng tư lệnh Bodet, bộ mặt lạnh như phiến đá hoa, đang chăm
chú theo dõi trên bản đồ hành trình của chuyến máy bay, tuyệt đối
không liếc nhìn ra phía ngoài một chút nào. Dưới cánh máy bay lúc
này chỉ là những đám mây dày đặc màu trắng, chồng chất lên nhau.
Đó là một thứ “mưa phùn khô” tạo thành một tấm màn che do gió rét
và hơi ẩm trên vùng trời thượng du Bắc Kỳ kéo tới che phủ rừng núi
và thung lũng suốt phần lớn thời gian mùa Đông. Tuy nhiên, đôi lúc
tấm màn mây này cũng tự xé rách, để lộ ra một khoảng trời như cửa
chiếc bẫy sập, nhìn xuống phía dưới là một vực sâu có những bản
làng người Thái bám chặt lấy những sườn núi đã chặt hết cây cối,
hoặc là những suối nước chảy dữ dội đổ vào sông Đà hay sông
Hồng.
Từ loa phát thanh vọng ra tiếng nói khàn khàn :
- Máy bay đang trên vùng trời Yên Bái.
Tướng Bodet ấn ngón tay trỏ lên bản đồi. Bắt đầu từ thời điểm này,
máy bay rời bỏ vùng trời thung lũng sông Hông để bay ngược lên
vùng núi, tới vùng trời Nghĩa Lộ và Sơn La.
Ngồi ở chiếc ghế sau tướng Bodet, tướng Gilles vẫn không động
đậy. Ông cũng không cần theo dõi trên bản đồ. Vùng thượng du là
khu vực ông đã biết rất rõ để có thể nói thẳng thừng là đã “chạy thục
mạng” hàng tháng trời suốt chiến dịch Thu Đông năm trước.
Đúng một năm trước đây, tướng Jeans Gilles hồi đó mới là một đại
tá, cuối tháng 11 năm 1952 đang đón đợi cuộc tiến công của các sư
đoàn thiện chiến Việt Minh tại một thung lũng nhỏ trong xứ Thái,
nằm giữa vùng núi Nghĩa Lộ và Sơn La, một tập đoàn cứ điểm xây
dựng vội vã nhằm ngăn chặn làn sóng tiến công của Việt Minh đang
tràn khắp vùng thượng du, quét sạch những đồn bốt nhỏ bé trong
những thung lũng và trên đỉnh núi. Cứ điểm “con nhím” này đặt ở Nà
Sản, một địa danh nổi bật trên trang nhất báo chí khi tướng Giáp bất
ngờ nổ súng tiến đánh vào ngày 28 tháng 11 năm 1952. Sau 6 ngày
giao tranh quyết liệt, giành đi giật lại từng vị trí, có lúc tưởng chừng
như Nà Sản sẽ sụp đổ tới nơi; nhưng cuối cùng các đơn vị lính lê
dương và lính dù đóng giữ tập đoàn cứ điểm này vẫn giữ vững, bộ
đội Việt Minh phải rút lui.
Chiến công này đã nâng Jeans Gilles từ đại tá lên thiếu tướng. Hơn
nữa, chiến công này còn neo chặt trong đầu óc một sĩ quan tham
mưu niềm tin vững chắc là những cứ điểm phòng ngự kiểu “con
nhím” ở vùng thượng du là giải pháp lỳ diệu để nhử mồi và đánh
thắng lực lượng chủ lực tiến công của Việt Minh chưa có đủ trang bị
cần thiết để đánh chiếm những vị trí như thế này. Đặc biệt, đó là
quan điểm của đại tá Berteil, người thay Gilles làm Tư lệnh binh
đoàn tác chiến khu vực miền Trung sông Đà, gọi tắt là GORMON.
Ngày 21 – 5 -1953, khi Tổng tư lệnh Navarre bất ngờ đặt chân
xuống Nà Sản trong cuộc hành trình thị sát vùng thượng du, đại tá
Berteil đã nồng nhiệt bộc lộ ý kiến trên đây với cấp trên.
Nhưng riêng về phần mình , tướng Gilles lại có quan điểm khác. Là
một người ưa hành động, tướng Gilles không thể chịu được cảnh
giam chân trong một cứ điểm kiểu “con nhím”, bị vây bọc mọi phía,
hoàn toàn phụ thuộc vào việc tiếp tế bằng máy bay, chờ đợi địch
tiến đánh. Ông muốn được có những cuộc hành quân táo bạo, trong
đó được tự do vận động , nhử địch vào những cạm bẫy để rồi
nghiền nát bằng quả đấm của lính dù.
Đó là phần cuối trong ý niệm về cuộc hành quân chiếm lĩnh Điện
Biên Phủ ngày hôm đó. Nếu ông nhận cầm đầu lính dù của mình
nhảy xuống tiến đánh Điện Biên Phủ, đó là do ông nhận được lời
hứa chính thức chỉ ở lại đây một thời gian ngắn, vừa đủ để tìm được
người thay thế. Một cơn đau tim gần đây nhất đã chứng minh, ông
đang vượt qua giới hạn củ sự dẻo dai về thể lực. Ông bộc lộ với
tướng Dechaux :
- Điện Biên Phủ không thể trở thành một Nà Sản thứ hai như tất cả
những đầu óc trong ban tham mưu ở Sài Gòn nghĩ như vậy. Bởi vì,
Việt Minh hẳn cũng đã rút kinh nghiệm về những bài học thất bại ở
Nà Sản năm ngoái. Hoặc là, tướng Giáp sẽ áp dụng các biện pháp
cần thiết nhằm ngăn cản không cho Điện Biên Phủ trở thành mối uy
hiếp hậu phương Việt Minh, hoặc là sẽ tiến đánh Điện Biên Phủ …
Tướng Gilles không nói thêm, nhưng vẫn khiến cho người nghe có
cảm giác ông không muốn bị chôn chân bó tay tại Điện Biên Phủ
nếu Việt Minh tiến công.
Tuy nhiên, ông cũng cho biết, sau khi rút bỏ Nà Sản hồi tháng 8 vừa
rồi, thì hiện nay Điện Biên Phủ là một căn cứ ít tồi nhất ở vùng
thượng du. Trong mọi trường hợp, Điện Biên Phủ vẫn còn tốt hơn
Lai Chua là điểm tựa duy nhất còn tồn tại trong vùng, mà mọi người
vẫn thường đánh giá là “một chiếc bô đi tiểu”.
Tướng Bodet nhìn ra phía ngoài máy bat, nhăn mặt khi thấy những
đám mây mỗi lúc một nhiều. Nếu vòm trời bị phủ kín mây, hoặc nếu
có mưa, thì không thể nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.
Tướng Dechaux liếc nhìn đồng hồ đeo tay : 5 giờ 40 phút. Ông nói :
- Chậm nhất là một giờ nữa, ta sẽ về tới nơi.
Phía dưới máy bay, trời vẫn một màu mây trắng. Chỉ có một vài đỉnh
núi như người vừa chợt tỉnh ngủ, nhô đầu ra khỏi lớp chăn bông của
mây. Dù sao mặt trời đã hiện ra ở phía Đông, đang nhuộm những
đám mấy tích điện to lớn một mày hồng thẫm.
Hoa tiêu nói qua loa phóng thanh :
- Chúng ta đang bay trên vùng trời Tuần Giáo.
Khoảnh khắc thực tế đang tới gần. Điện Biên Phủ chỉ còn cách 80
kilômét về phía Tây. Hai mươi phút nữa. Tướng Gilles cúi đầu xuống,
trề môi suy nghĩ. Cùng với mặt trời mọc, có vẻ như cảnh “mưa phùn
khô” cũng xuất hiện cho bầu trời nhuốm một màu xanh lơ nhạt dịu.
Bây giờ, những tia nắng đầu tiên của mặt trời đã làm màu xanh lơ
trong trẻo chuyển thành màu xám bẩn thỉu dày đặc sương mù.
Tướng Bodet và tướng Dechaux đưa mắt nhìn nhau. Suy cho cùng,
chính tướng Bodet trên cương vị Phó tổng tư lệnh là người chịu trách
nhiệm nặng nề bật đèn xanh cho 1500 lính dù của Bigeard và
Bréchignac đang tập trung tại sân bay Bạch Mai và Gia Lâm từ 4 giờ
sáng để chuẩn bị lên đường nhảy xuống Điện Biên Phủ.
Tổng tư lệnh Navarre nói :
- Nếu thật thời tiết tốt mới nhảy.
Tối hôm qua, tướng Bodet cũng nhắc lại câu này với các chỉ huy tiểu
đoàn nhảy dù :
- Nếu thời tiết tốt, sẽ nhảy.
Tướng Bodẻ không thuộc phái tán thành vô điều kiện cuộc hành
quân Castor nhằm chiếm đóng sân bay và toàn bộ thung lũng Điện
Biên Phủ, tổ chức khu vực này thành một căn cứ lục – không quân,
tạo nên một then cổng khóa đường biên giới thông sang Lào, một
con đập ngăn chặn du kích Việt Minh, một bàn đạp xuất phát những
cuộc hành quân tiến đánh vùng hậu phương địch. Bodet là một phi
công. Ông suy nghĩ trên cương vị chuyên môn về vận chuyển và
yểm trợ đường không. Mảnh đất Điện Biên Phủ, cách sân bay Bạch
Mai Hà Nội 300 kilômét, cách sân bay Cát Bi Hải Phòng 400 kilômét,
là một sân bay hạn chế cho việc sử dụng thực tế tiềm năng của lực
lượng không quân hiện có tại Đông Dương của Quân đội viễn chinh
Pháp.
Đã 6 giờ 10 phút.
Chiếc Dakota lượn một vòng rộng trên thung lũng Điện Biên Phủ.
Tướng Bodet lại liếc nhìn đồng hồ. Còn khoảng gần 50 phút nữa
trước khi có thể ra lệnh hoãn cuộc hành quân Castỏ.
Trong khoang lái, những chuyên viên “công ty vận tải đường không”
dán mắt vào khung cửa kính. Họ không nhìn thấy gì ngoài những
đỉnh nhúi cao 1500 mét hiện ra trên hướng Lai Châu. Mấy người này
trao đổi với nhau :
- Nhìn này, sương mù đang dày đặc thêm.
- Có vẻ như những triển vọng của cuộc hành quân Castor đang
giảm dần theo từng giây phút.
Đột nhiên, một vừng sáng maù đỏ chói đang biến mớ bòng bong
màu xám loang lổ thành những làn hơi nước. Mặt trời đã xuất hiện từ
những đám mây. Khung cảnh đang ảm đạm trở thành rực rỡ. Những
dải sương mù bốc lên cao tan trong ánh sáng đang sà xuống thấp.
Trên thung lũng Điện Biên Phủ, sương mù như bị luồng gió nuốt
chửng, đang bị tan, bị xé, bị rách từng mảng để bộc lộ những thảm
xanh tươi của ruộng đồng, những lùm đen sạm của cây cối, những
vệt sáng màu bạc của suối nước và dòng sông Nậm Rốn cuồn cuộn
chảy.
Đã 6 giờ 37 phút.
Phó tổng tư lệnh Bodet thở phào, nhẹ nhõm. Ông lại gần tướng
Gilles chỉ huy trưởng cuộc hành quân :
- Có vẻ như trời hửng, Đúng không ?
Tướng Gilles không trả lời, chỉ gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Vầng trán cầu
thủ bóng ném của ông lúc này đang cúi sát khung cửa sổ máy bay,
ông cố phát hiện một vài dấu hiệu nổi bật của địa hình phù hợp với
những tấm ảnh chụp từ trên không mà ông vẫn còn nhớ như in trong
óc. Đối với ông, câu nói vừa qua của tướng Bodet chỉ còn đơn giản
chứa đựng hàm ý : vài giờ nữa, hai tiểu đoàn dù, những lính dù “của
ông” sẽ đương đầu với thực tế gay go của cuộc chiến đấu. Và cuộc
chiến này nhất định sẽ xảy ra. Nhưng thắng lợi là chắc chắn. Tướng
Gilles tin cậy vào hai tiểu đoàn trưởng quân dù của ông là Bigeard
và Bréchignac. Đó là hai sĩ quan chỉ huy hai đơn vị thiện chiến có
hiệu xuất tác chiến như nhau dù phong cách khác nhau.
Tướng Gilles lúc này mới quay đầu về phía tướng Bodet. Tướng
Bodet vẫn đang tiếp tục nhìn đồng hồ. Đã 6 giờ 52 phút. Phó tổng tư
lệnh Bodet nói với tướng Dechaux, tư lệnh lực lượng không quân
chiến thuật miền Bắc Đông Dương :
- Phát lệnh theo quy định ! Chúng ta bắt đầu cuộc hành quân
Castor.
Cuộc hành trình
Số phận cuộc hành quân bắt đầu lúc 7 giờ sáng ngày 20 – 11 –
1953. Nhưng lúc đó, mọi người vẫn chưa biết rõ vận mệnh cuộc
nhảy dù sẽ ra sao. Bất kể tầm quan trọng như thế nào, kế hoạch
mang tên Castor, có nghĩa là con hải ly, vẫn là một kế hoạch tuyệt
mật, được soạn thảo trong phòng làm việc của tướng Navarre là
Tổng tư lệnh, có trách nhiệm quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Đông
Dương và kế hoạch này đã đư...
Lời giới thiệu
Bản đồ cứ điểm Điện Biên Phủ - 1954
Lịch chiến sự
Cuộc hành quân Castor
Cuộc hành trình
Bãi nhảy dù Natacha
Ngày N + 2
Thung lũng con hải ly
Cuộc hành quân Pollux
Lễ Noel ở Điện Biên Phủ
Căn cứ lục – không quân
Những đỉnh đồi phía đông
Chiến hào bao vây Beatrice
Trước trận đánh
Bão lửa
Trận Beatrice
Him Lam
Đợt ngừng bắn
Pháo Điện Biên Phủ
Trên cứ điểm Gabrielle
Trận đấu
Đêm Gabrielle
Bình minh trên Gabrielle
Trận phản kích
Gabrielle tắt thở
Nỗi cô đơn của Langlais
Bắn tỉa
Thảm họa
Những khẩu súng cao xạ
Dominique
Trung úy Brunebroucke
Đêm Eliane
Huguette 7
Quả đồi thứ 5
Huguette 6 hấp hối
Mương thoát nước
Ngày lại ngày
Giành lại Eliane 1
Những ngôi sao cấp tướng
Cụm Huguette nghẹt thở
Tình nguyện nhảy dù
Lễ Camerone ở Điện Biên Phủ
Đợt tiến công thứ ba
Eliane 1 chết lần thứ hai
Số phận tiểu đoàn 1
Đường hầm Eliane 2
Buổi sáng cuối cùng
Kết thúc
Phụ lục:
Điện Biên Phủ - 170 ngày đêm bị vây hãm
Tác giả: Erwan Bergot
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Lời giới thiệu
Cho tới nay, nhân dân ta vẫn quen với khái niệm chiến dịch Điện
Biên Phủ kéo dài 56 ngày đêm, kể từ khi ta bắt đầu nổ súng tiến
công tập đoàn cứ điểm của Pháp vào ngày 13 tháng 3 năm 1954, và
kết thúc vào ngày 7 tháng 5 năm 1954 khi toàn bộ các lực lượng
Pháp ở đây buông súng đầu hàng.
Tuy nhiên, đối với quân đội viễn chinh Pháp thì Điện Biên Phủ là
một cơn ác mộng kéo dài, kể từ ngày 20 tháng 11 năm 1953 là khi
mới bắt đầu nhảy dù xuống cánh đồng Mường Thanh đã lập tức bị
bộ đội và nhân dân địa phương đón đánh, tiếp đó là gần nửa năm bị
vây hãm, bị tập kích, phục kích mà đỉnh cao là những trận đánh liên
tục kéo dài từ ngày 13 tháng 3 đến 7 tháng 5 và hoàn toàn kết thúc
vào ngày 8 tháng 5 khi những đơn vị đóng tại Hồng Cúm thuộc phân
khu phía Nam định tháo chạy sang Lào nhưng đã bị chặn đánh và
tiêu diệt hết, tổng cộng là 170 ngày tất cả.
Chính vì những lẽ đó nên Erwan Bergot, một trung úy có mặt tại
Điện Biên Phủ từ những ngày đầu đã trải qua gần sáu tháng sống
trong cảnh căng thẳng, hãi hùng, khốn đốn tại Điện Biên Phủ, cuối
cùng bị bắt làm tù binh rồi được phóng thích, đã viết cuốn sách này
và được Nhà xuất bản Presses de la Cité ở Paris, Phap, xuất bản
năm 1979 , sau đó được nhiều lần tái bản.
Theo giới thiệu của Nhà xuất bản Presses de la Cité, Erwan Bergot
đã bỏ ra nhiều năm sưu tầm tài liệu, gặp gỡ các bạn chiến đấu cũ,
ghi lại « nhiều chứng cứ của những người còn sống sót để dựng lại
một bức tranh sinh động và bi thảm trải dài suốt 170 ngày đêm, từ
việc xây dựng tập đoàn cứ điểm , tổ chức các vị trí phòng ngự đến
các trận đánh, nhưng trước hết là tinh thần, tình cảm của những
người lính chiến đấu. Chính họ là những nhân chứng không thể bác
bỏ. Họ là những người đứng ở vị trí hàng đâu”.
Bản dịch tiến Việt được thể hiện bởi dịch giả Lê Kim, người cũng
từng là một chiến sĩ Điện Biên chiến đấu trong sư đoàn 308 năm
xưa.
Nhà xuất bản Công an nhân dân
Bản đồ cứ điểm Điện Biên Phủ - 1954
Lịch chiến sự
1953
12 -11 : Bộ tư lệnh chiến trường Bắc Bộ do tướng Cogny chỉ huy
thông qua quyết định mở cuộc hành quân Castor nhảy dù chiếm
đóng Điện Biên Phủ. Bản kế hoạch hành quân được Tổng tư lệnh
Đông Dương Navarre phê chuẩn.
20 – 11 : Cuộc hành quân Castor bắt đầu. Tiểu đoàn dù thuộc địa số
6 do Bigeard chỉ huy nhảy dù xuống bãi Natacha, cánh đồng Mường
Thanh, phía Tây Bắc Bản Kéo. Tiểu đoàn dù số 2 do Bréchignac chỉ
huy thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 nhảy xuống bãi Simone cách
Bản Kéo 4 kilômét về phía Nam. Tiểu đoàn dù số 1 do Souquet chỉ
huy và ban chỉ huy lực lượng nhảy dù do Fourcade chỉ huy kết thúc
cuộc nhảy dù trong ngày.
21 – 11 : Cuộc hành quân Castor tiếp tục với tiểu đoàn dù lê dương
số 1 do Guiraud chỉ huy và tiểu đoàn dù thuộc địa số 8 của Tourret
cùng với bộ phận hỗ trợ của Molinier.
22 – 11 : Tiểu đoàn dù lính Việt do Leclerc chỉ huy kết thúc cuộc
hành quân Castor. Điện Biên Phủ có 4.560 binh sĩ chiếm đóng.
23 – 11 : Bắt đầu cuộc hành quân Pollux rút khỏi Lai Chua.
8 – 12 : Tiểu đoàn 2 bộ binh lính Thái tới Điện Biên Phủ.
10 - 12 : Các tiểu đoàn dù thuộc địa số 1, tiểu đoàn dù thuộc địa số
6, tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 được đưa trở về
Hà Nội ( từ 2 -12).
15 – 12 : Thêm một số đại đội lính Thái tới Điện Biên Phủ.
16 – 12 : Tiểu đoàn dù lính Việt số 5 được đưa từ Điện Biên Phủ trở
lại Hà Nội bằng máy bay.
Từ 15 đến 20 – 12 : Các tiểu đoàn số 1 và số 3 thuộc bán lữ đoàn lê
dương số 3 và những đơn vị đầu tiên của binh đoàn cơ động số 9 do
Gaucher chỉ huy được máy bay đưa lên Điện Biên Phủ.
Từ 23 đến 28 – 12 : Tiến hành cuộc hành quân Regates với tiểu
đoàn dù lê dương số 1 và tiểu đoàn dù xung kích số 8 thuộc binh
đoàn đổ bộ đường không số 2 tiến công thăm dò từ Sốp Nạo đến
Mường Khoa trên lãnh thổ Lào.
29 – 12 : Tiếp tục vận chuyển bằng cầu hàng không lên Điện Biên
Phủ : tiểu đoàn 5 thuộc trung đoàn bộ binh Angiêri số 7 và tiểu đoàn
3 thuộc trung đoàn pháo binh thuộc địa số 10 cùng với một đại đội
xe tăng Shaffee.
1954
Từ 1 đến 10 – 1 : Cầu hàng không tiếp tục đưa lên Điện Biên Phủ :
tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn bộ binh lê dương số 3 và bộ phận đầu
của binh đoàn cơ động số 6 gồm : tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bộ
binh Angiêri số 2 và tiểu đoàn 1 thuộc trung đoàn bộ binh lê dương
số 2.
Từ tháng 1 đến tháng 2 : Hoàn chỉnh việc xây dựng các cụm cứ
điểm xếp theo thứ tự A, B, C .. mang tên : Anne Marie , Beatrice ,
Cladine, Dominique , Eliane, Francoise , Gabrielle , Huguette ,
Isabella .
Từ 12 đến 16 – 2: Hành quân thăm dò các mỏm đồi phía Đông với
sự tham gia của tiểu đoàn dù lê dương số 1, tiểu đoàn 3 thuộc trung
đoàn bộ binh lê dương số 3, tiểu đoàn 3 thuộc trung đoàn bộ binh
Angiêri số 3, tiểu đoàn lính Thái số 3, tiểu đoàn dù xung kích số 8,
tiểu đoàn 1 thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13.
Từ 10 đến 13 – 3 : Tiến công phòng ngự và phản kích lấp các chiến
hào do Việt Minh đào lấn bao vây cụm cứ điểm Beatrice gần bản
Him Lam.
13 – 3 : Sư đoàn 312 Việt Minh tiến đánh Beatrice lúc chập tối. Đến
2 giờ sáng, cụm cứ điểm bị thất thủ.
14 – 3 : Hai bên ngừng bắn từ 8 giờ đến 12 giờ để thu nhặt thương
binh.
Tiểu đoàn dù lính Việt số 5 nhảy xuống tăng viện cho Điện Biên
Phủ.
17 giờ : Sư đoàn 308 Việt Minh tiến đánh Gabrielle.
15 – 3 : Tổ chức phản kích giành lại Gabrielle bằng hai đại đội lính
dù lê dương, tiểu đoàn 5 kính dù người Việt và một tiểu đội xe tăng.
Đến 8 giờ cuộc phản kích bị chặn lại. Gabrielle coi như hoàn toàn bị
thất thủ vào 8 giờ sáng.
16 – 3 : Tiểu đoàn 6 lính dù thuộc địa do Bigeard chỉ huy nhảy
xuống tăng viện.
Đầu giờ buổi chiều hai đại đội lính Thái đóng ở Anne Marie 1 và
Anne Marie 2 gần Bản Kéo bỏ đồn, đào ngũ.
17 – 3 : Một đại đội thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 cố chiếm lại
Anne Marie 1 và Anne Marrie 2 nhưng không đạt kết quả.
18 – 3 : Việt Minh bắn pháo vào các cụm cứ điểm và sân bay. Hai cứ
điểm còn lại ở Bản Kéo là Anne Marie 3 và Anne Marie 4 được lệnh
sát nhập với cụm cứ điểm bảo vệ sân bay, đổi tên thành Huguette 6
và Huguette 7 . Một đại đội lính dù người Việt do Rondeaux chỉ huy
được điều động đóng giữ Huguette 7 thay cho lính Thái đưa về khu
Trung tâm.
19 – 3 : Hai máy bay Dkota hạ cánh xuống đường băng sân bay, bị
pháo bắn , chỉ một chiếc hoàn thành nhiệm vụ.
20 – 3 : Pháo tiếp tục bắn vào sân bay. 5 chiếc Dakot đã hạ cánh và
cất cánh an toàn.
21 – 3 : Nhiều cuộc giao tranh ác liệt trong đoạn đường từ khu Trung
tâm đến phân khu Nam, nơi đặt cụm cứ điểm Isabelle.
24 – 3 : Tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 đụng độ với địch ở khu vực
giữa cụm Claudine trên dãy đồi phía Đông với Isabelle thuộc phân
khu Nam.
25 – 3 : Pháo Việt Minh đặt ở Bản Kéo bắn vào Huguette 7 bảo vệ
đầu đường băng sân bay.
Tiểu đoàn dù xung kích số 8 đụng độ với Việt Minh ở khu vực giữa
các cứ điểm Dominique 1 và 2, phía Đông phân khu Trung tâm.
26 – 3 : Hành quân giải vây cho Huguette 7 bằng tiểu đoàn dù lê
dương và tiểu đoàn dù lính Việt. Trung úy Rondeaux bị thương. Đại
úy Bizard được cử thay thế.
27 – 3 : Các đơn vị liên tục cho quân ra lấp các chiến hào do Việt
Minh đào lấn bao vây cứ điểm.
Thánh lập thêm cứ điểm Opera ở phía Đông sân bay do một đại đội
thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 đóng giữ.
28 – 3 : Các lực lượng ứng chiến từ phân khu Trung tâm mở cuộc
hành quân ra phía Tây nhằm tiêu diệt các khẩu pháo cao xạ Việt
Minh đặt tại bản Ong Pẻ và gần bản Pe. Tiểu đoàn dù thuộc địa số
6 mở đầu cuộc tiến công, tiếp theo là tiểu đoàn dù xung kích số 8.
Tiểu đoàn dù lê dương đi sau tiếp ứng. Tiểu đoàn bộ binh lê dương
số 1 làm nhiệm vụ hỗ trợ khi rút quân trở về. Các xe tăng từ Isabella
cùng đi để yểm trợ hỏa lực.
29 – 3 : Một cứ điểm mới, mang tên Eliane 4 được thành lập do các
đơn vị rút từ tiểu đoàn dù thuộc địa số 6 và tiểu đoàn dù lính Việt số
5 cùng đóng giữ.
Việt Minh xiết chặt vòng vây quanh các đồi phía Đông.
30 – 3 : Trung tá Langlais đi kiểm tra các cụm cứ điểm mang tên
Dominique và Eliane, quyết định đưa đại đội 4 lính dù người Việt
đến đóng tại Dominique 1 và tăng cường thêm cho Eliane 2 một đại
đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương số 1.
Các đơn vị tăng cường chưa kịp tới vị trí, Việt Minh đã mở cuộc tiến
công.
Pháo chuẩn bị của Việt Minh bắt đầu bắn từ 17 giờ 30 phút. Một
khẩu 155 và bốn khẩu 105 bị pháo Việt Minh phá hủy ngay trong
hầm đặt pháo. 18 giờ 45, bộ đội Việt Minh bắt đầu xung phong,
nhanh chóng chiếm lĩnh Eliane 1 và Dominique 2. Đến 21 giờ, Việt
Minh chiếm thêm Dominique 1 nhưng bị chặn lại trước Dominique 3.
Tại Eliane 2 ( trên đồi A1) lính lê dương và lính Marôc bị đánh bật
khỏi một số vị trí nhưng vẫn bám giữ.
22 giờ, sư đoàn 308 Việt Minh tiến công Huguette 7. 24 giờ , sư đoàn
316 Việt Minh bám chân được vào khu đất dưới chân Eliane 2, mang
tên Champs Elysees, nhưng vẫn không chiếm được đỉnh đồi A1.
31 – 3 : Huguette 7 bảo vệ đường băng vẫn giữ vững.
Eliane 2 bảo vệ khu Trung tâm sau khi nhận được tất cả các lực
lượng ứng cứu có thể huy động, vẫn tiếp tục chống cự.
10 giờ sáng, tiểu đoàn dù xung kích số 8 và tiểu đoàn dù thuộc địa
số 7 cố giành lại Dominique 2 và Eliane 1 nhưng không thành công,
phải rút về sau khi bị thiệt hại nặng vào lúc 15 giờ.
17 giờ, Việt Minh tiếp tục tiến đánh Eliane 2 nhưng cứ điểm vẫn giữ
vững sau suốt một đêm chống cự ác liệt.
1 – 4 : Tiểu đoàn dù lê dương số 1 và một đại đội của tiểu đoàn dù
xung kích số 8 chiếm lại được Champs Elysees.
Huguette 7 bị bắn pháo dữ dội. Bizard tạm thời dẫn một bộ phận rút
khỏi cứ điểm nhưng đến tờ mờ sáng hôm sau họ quay trở lại, chiếm
lại toàn bộ các vị trí. Đến 10 giờ, đại đội bộ binh lê dương do Spozio
chỉ huy tới thay thế đơn vị Bizard, chiếm đóng Huguette 7.
Trong ngày, những binh lính còn sống sót thuộc tiểu đoàn 1, trung
đoàn bộ binh Marôc số 4 tập hợp tại một cứ điểm vừa được thiết
lập, mang tên Lily nằm ở khu vực giữa cụm Huguette và cụm
Claudine.
17 giờ, sư đoàn 316 tiếp tục tiến đánh Eliane 2. Các lính dù lê
dương, lính dù hỗn hợp Pháp – Việt, lính dù thuộc địa, lính dù xung
kích, lính bộ binh lê dương, lính bộ binh Marôc luân phiên chiến đấu
chống cự suốt 36 giờ liên tục.
Ở phía Tây, Huguette 7 bảo vệ đầu đường băng bị Việt Minh chiếm
vào lúc 21 giờ. Mười hai lính lê dương còn sống sót chạy về được
khu Trung tâm.
2 – 4 : Tiểu đoàn số 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 bắt đầu
nhảy xuống Điện Biên Phủ, do Bréchignac chỉ huy.
Cho tới rạng sáng Eliane 2 vẫn giữ vững. Nhưng cứ điểm mang tên
Francoise nằm lẻ loi ở phía Tây, do lính Thái đóng giữ đã “bốc hơi”
trong đêm.
Huguette 7 bị mất. Huguette 6 trở thành tiền đồn bảo vệ đường
băng sân bay tiếp tục bị Việt Minh tiến công.
Tiểu đoàn số 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 tiếp tục nhảy
xuống Điện Biên Phủ. Ban chỉ huy tiểu đoàn đặt tại Eliane 4. Lính dù
người Việt trong cứ điểm đặt dưới sự chỉ huy của Bréchignac.
3 – 4 : Eliane 2 vẫn giữ vững sau 90 giờ chiến đấu ác liệt.
Buổi tối, Huguette 6 tiếp tục bị tiến đánh. Đại đội do Desmons chỉ
huy thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 tiến theo đường mương thoát
nước của sân bay đánh tạt ngang sườn quân địch. Việt Minh phải rút
lui.
Đơn vị cuối cùng thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1,
nhảy xuống phân khu Trung tâm.
4 – 4 : Vào lúc rạng sáng. Việt Minh tự động rút khỏi Champs Elyees
( ở chân Eliane 2) . Cuộc chiến đấu liên tục trên đồi Eliane 2 kéo dài
suốt 107 giờ, coi như tạm chấm dứt.
Trong khi đó, cuộc chiến đấu giành giật các cứ điểm Huguette bảo
vệ đường băng sân bay lại bắt đầu : vào lúc gần nửa đêm, bốn tiểu
đoàn Việt Minh có pháo nặng yểm trợ lực xung phong đánh chiếm
Huguette 6. Đại đội Bailly thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 xuất
phát từ Opera đến ứng cứu bằng cách tiến quân theo mương thoát
nước nhưng được nửa đường thì bị chặn lại. Đại đội Clédic thuộc
tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 vừa nhảy xuống trong đêm
trước, đánh thẳng vào đường băng, buộc một tiểu đoàn Việt Minh bố
trí ở điểm nút phải rút lui.
5 – 4 : Buổi sáng, đơn vị Clédic có thêm một đại đội do Le Page chỉ
huy thuộc tiểu đoàn dù xung kích số 8 tăng cường hoàn thành việc
chiếm lại Huguette 6.
Tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 do Minaud chỉ huy
tới thay cho đơn vị Clédic rút về phía sau, chuyển thành lực lượng
dự bị.
Từ 6 đến 8 – 4 : Đại đội Bizard thay Minaud giữ Huguette 6.
Việc bảo vệ Eliane 2 được giao cho tiểu đoàn 1 thuộc bán lữ đoàn lê
dương số 13 đảm nhiệm, do thiếu tá Coutant chỉ huy.
Từ 9 đến 10 – 4 : Chiến hào Việt Minh hoàn toàn vây chặt cụm cứ
điểm Huguette 6. Lực lượng ứng cứu di Trapp và Le Page chỉ huy
mở cuộc hành quân chiếm lại Eliane 1. Buổi tối, Charles và Minaud
dẫn tiểu đoàn 2 thuộc trung đoàn dù thuộc địa số 1 tới thay quân.
Việt Minh lại tiến đánh. Bigeard tung hai đại đội dù lê dương do
Martin và Brandon chỉ huy, có hai đại đội dù người Việt do
Guilleminot và Phạm Văn Phú tiến theo trợ lực. Đến rạng sáng, lại
đưa thêm một đại đội thuộc tiểu đoàn dù lê dương số 2 do Lecour
Grandmaison đến tăng cường thêm, nhằm chống lại cuộc tiến công
của Việt Minh.
Từ 11 đến 12 – 4: Eliane 1 vẫn giữ vững.
Hoàn thành việc thả dù toàn bộ tiểu đoàn 2 lính dù lê dương.
Những lính dù thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn dù thuộc địa số 1 còn
sống sót trên cứ điểm Eliane 1 được sát nhập vào đại đội do thiếu
úy Leguerre chỉ huy.
Từ 12 đến 13 – 4 : Huguette 6 bị pháo bắn dữ dội. Việc tiếp tế lương
thực, đạn dược và nước uống rất khó khăn.
14 – 4 : Việt Minh đã chiếm được một phần ba đường băng sân bay.
Huguette 6 vẫn cố giữ.
Eliane 1 và Eliane 2 tiếp tục chống cự.
15 – 4 : Hai đại đội xuất phát từ Opera lấp các chiến hào do Việt
Minh đào bao vây Huguette 6.
Từ 16 đến 17 – 4 : Phải huy động tới một tiểu đoàn lính chiến đấu
để bảo vệ cho số phu mang lương thực, đạn dược, nước uống cho
Huguette 6.
Một giờ sáng, địch bất ngờ tiến công Eliane 1.
Các đại đội dưới sự chỉ huy của Clédic và Periou tổ chức đánh chặn.
17 – 4 : Chỉ huy trưởng De Castries quyết định rút bỏ Huguette 6.
Từ đêm 17 đến 18 – 4 : Tiểu đoàn dù lê dương số 1 được lệnh mở
đường tiến qua hệ thống chiến hào bao vây của Việt Minh đón đơn
vị Bizard rút khỏi Huguette 6. Được nửa đường thì vấp phải một tiểu
đoàn Việt Minh, không sao tiến được nữa.
Đến 10 giờ, Bizard quyết định tự phá vây và đã rút về được
Huguette 1 nhưng bị thương vong tới 70% quân số.
18 – 4 : Đại đội 4 thuộc tiểu đoàn 1 bán lữ đoàn lê dương số 13, do
Chevalier chỉ huy được lệnh thay quân cho đơn vị bộ binh lê dương
đang đóng tại Huguette 1.
19 – 4 : Sau một đêm chiến đấu, Chevalier đã tới được Huguette
thay Spozio. Nhưng khi, dẫn quân trở về khu Trung tâm, Spozio bị
tiêu hao tới một nửa số quân còn lại.
20 – 4 : Khoảng 100 lính “tình nguyện” chưa có bằng tốt nghiệp
nhảy dù, nhảy liều xuống Điện Biên Phủ.
21 – 4 : Sau một đêm tương đối yên tĩnh, Việt Minh lại tiến đánh
Huguette 1 nhưng không đạt kết quả.
Đêm 22 rạng 23 – 4 : Cứ điểm Huguette 1 bị tiến công từ mọi phía.
Đến 1 giờ sáng liên lạc điện thoại với Chevalier hoàn toàn bị cắt đứt.
23 – 4 : De Castries quyết định giành lại Huguette 1.
Hồi 11 giờ trưa, tiêu đoàn dù lê dương số 2 được lệnh phản kích. Hai
đại đội xuất phát từ phía Nam Huguette 2 và hai đại đội từ phía Tây
Opera cùng tiến về Huguette 1. 16 giờ , cuộc phản kích bị Việt Minh
đánh lui.
24 – 4 : Tổ chức lại hệ thống phòng ngự. Opera bị rút bỉ. Lính trong
cứ điểm hợp nhất với đơn vị đang đóng tại Huguette 2.
25 – 4 : Việt Minh tiến đánh Epervier ( là một cứ điểm ở phía Nam
Opera ). Các hầm hố trong cứ điểm đều ngập đầy bùn vì mưa suốt
đêm.
Từ 26 đến 30 – 4 : Pháo bắn liên tục. Việt Minh tiếp tục đào hào bao
vây Huguette 4 và Huguette 5.
Trong bốn đêm liền, khoảng 300 lính tình nguyện nhảy dù xuống
Điện Biên Phủ.
Từ 1 đến 2 – 5 : 17 giờ, pháo Việt Minh bắt đầu bắn chuẩn bị, mạnh
nhất và kéo dài nhất kể từ ngày bắt đầu chiến dịch. Pháo bắn suốt
ba tiếng đồng hồ.
Từ 20 giờ 30, Eliane 1 và Eliane 2 bắt đầu bị bộ đội Việt Minh xông
vào cứ điểm. Khoảng tờ mờ sáng, Eliane 1 vị Việt Minh hoàn toàn
chiếm lĩnh, Eliane 2 vẫn tiếp tục chống cự.
Ở mặt phía Tây, sau khi tiến công thăm dò Huguette 4 và Lily, Việt
Minh bắt đầu tiến đánh Huguette 5. Đến 3 giờ sáng, Huguette 5 bị
chiếm lĩnh. Một cuộc phản kích từ Huguette 2 đánh sang bị Việt
Minh chặn đứng ngay trước lớp hàng rào kẽm gai của Huguette 5.
Đêm 2 rạng sáng 3 – 5 : Việt Minh tiếp tục tiến công gây sức ép ở
mặt Đông, nhằm vào Eliane 2 và Dominque 3.
Ở mặt Tây, sức ép của Việt Minh nhằm vào Huguette 4.
Rạng sáng, Dominique 3 bị chiếm lĩnh.
Đêm 3 rạng 4 – 5 : Pháo bắn suốt đêm.
Đại đội 2 thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 nhảy xuống ngay khu
vực đặt sở chỉ huy Trung tâm, lập tức được đưa ngay lên Eliane 2 là
nơi tiểu đoàn 1 thuộc bán lữ đoàn lê dương số 13 đã chiến đấu suốt
72 giờ.
Việt Minh đào một đường hầm dưới Eliane 2 đặt thuốc nổ.
4 – 5 : Đại đội 3 thuộc tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 tới tiếp viện cho
đại đội 2 đóng tại Eliane 2 vào lúc rạng sáng. Tiểu đoàn 1 thuộc bán
lữ đoàn lê dương số 13 tuần tự rút lui.
5 – 5 : Trời mưa cản trở việc thả dù. Chỉ có khoảng gần hai trung đội
nhảy được xuống Điện Biên Phủ.
Việt Minh củng cố các vị trí đã chiếm được tại Eliane 1 và
Domonique 3.
6 – 5 : Việt Minh tiếp tục tiến công Eliane 2 vào lúc gần tới đêm.
Từng tiểu đoàn tiến đánh theo nhịp độ nửa giờ rồi lại thay bằng tiểu
đoàn khác. Khoảng 23 giờ khối thuốc nổ trong đường hầm dưới cứ
điểm Eliane 2 phát nổ, chôn vùi đại đội 2 của tiểu đoàn dù thuộc địa
số 1.
Đại đội 3 tổ chức phản kích, đến 3 giờ sáng chiếm lại được đỉnh đồi.
7 – 5 : Eliane 4 bị tiến công. Botella và Bréchignac không thấy trả lời
qua điện đài.
Việt Minh quay trở lại tiến công. Eliane 2 sau khi đã chiếm được
Eliane 4. Đến 5 giờ sáng, Eliane 2 hoàn toàn bị Việt Minh chiếm lĩnh.
7 giờ sáng, Eliane 10 ở dưới chân Eliane 2 cũng bị chiếm.
8 giờ sáng, phần lớn các điểm tựa ở phía Đông bảo vệ cho sở chỉ
huy Trung tâm đều nằm trong tay Việt Minh.
Ở mặt Tây, Huguette 4 bị chiếm.
17 giờ 30 tiếng súng chấm dứt tại Điện Biên Phủ.
Cuộc hành quân Castor
20 – 11 – 1953
Máy bay từ từ lấy độ cao. Nhìn xuống phía dưới, bên phải là quầng
sáng màu vàng của dãy đèn ọc cầu Dourmer ( nay là cầu Long Biên)
soi rõ mặt nước sông Hồng. Tòa Nhà hát lớn, lờ mờ trong bóng tối
vẫn nổi bật ở đầu phố Paul Bert ( Phố Tràng Tiền ).
Máy bay tiếp tục lên cao . Hà Nội vẫn còn hiện rõ từng điểm vói
những đường phố và đại lộ có những cột đèn điện chiếu sáng giao
nhau theo hình thước thợ. Đây là ngã tư phố Gia Long ( phố Bà
Triệu) với khách sạn Ritz nổi bật như một khối hình hộp màu trắng
trên nền đường màu đen, kia là nhà ga nằm ở đại lộ De Lattre (
đường Lê Duẩn), ngay đầu đường Gambetta ( đường Trần Hưng
Đạo) có nhiều cây cao lá rậm. Xa hơn nữa về phía chân trời, có thể
đoán được vùng châu thổ đang chìm trong sương lam ở phía sau,
còn phía trước là đỉnh núi Tam Đảo màu đen trên nền trời đang sáng
dần của ánh bình minh.
Đó là bốn giờ ba mươi phút sáng 20 tháng 11 năm 1953. Chiếc
Dakota số 356 trong phi đội số 2 của lực lượng không quân vận tải
64 mang tên Anjou đang tiếp tục cuộc hành trình trên những đám
mây dày che phủ lưng chừng núi Ba Vì ở phía Tây.
Chiếc Dakota vẫn bốc cao mãi. Cho tới khi lên tới đỉnh tột cùng theo
quiđịnh là 4.000 mét, lúc đó mới rẽ ngoặt 290 0 . Lúc này, máy bay
đang trên vùng trời Sơn Tây, nơi sông Hồng chảy xuôi về phía châu
thổ.
Trong khoang máy bay, nhiệt độ xuống thấp. Mọi người phải mặc
thêm một chiếc áo nịt bông bên ngoài chiếc áo trậ. Riêng tướng
Gilles vẫn chỉ mặc bộ đồ len Kaki. Ông chủ đoàn quân nhảy dù cau
lông mày, nheo con mắt duy nhất còn lại, nhìn những đám mây đang
như bị luồng gió cánh quạt máy bay cuốn hút. Thỉnh thoảng, ông lại
rút từ túi áo ngực ra một chiếc khăn tay nhỏ, lau vành mi đang ứa
nước từ chiếc mắt giả bằng thủy tinh.
Trước mặt tướng Gilles, chỉ huy đoàn quân đổ bộ đường không, là
tướng Dechaux, Tư lệnh lực lượng không quân chiến thuật miền
Bắc Đông Dương, gọi tắt là GATAC – NORD. Tướng Dechaux cũng
đang nóng lòng sốt ruột cúi nhìn ra phía ngoài, ngang tầm với mẩu
thuốc lá đã hút xong nhưng vẫn còn ngậm trên môi của tướng
Bodet, phó của Tổng tư lệnh Đông Dương Navarre.
Phó tổng tư lệnh Bodet, bộ mặt lạnh như phiến đá hoa, đang chăm
chú theo dõi trên bản đồ hành trình của chuyến máy bay, tuyệt đối
không liếc nhìn ra phía ngoài một chút nào. Dưới cánh máy bay lúc
này chỉ là những đám mây dày đặc màu trắng, chồng chất lên nhau.
Đó là một thứ “mưa phùn khô” tạo thành một tấm màn che do gió rét
và hơi ẩm trên vùng trời thượng du Bắc Kỳ kéo tới che phủ rừng núi
và thung lũng suốt phần lớn thời gian mùa Đông. Tuy nhiên, đôi lúc
tấm màn mây này cũng tự xé rách, để lộ ra một khoảng trời như cửa
chiếc bẫy sập, nhìn xuống phía dưới là một vực sâu có những bản
làng người Thái bám chặt lấy những sườn núi đã chặt hết cây cối,
hoặc là những suối nước chảy dữ dội đổ vào sông Đà hay sông
Hồng.
Từ loa phát thanh vọng ra tiếng nói khàn khàn :
- Máy bay đang trên vùng trời Yên Bái.
Tướng Bodet ấn ngón tay trỏ lên bản đồi. Bắt đầu từ thời điểm này,
máy bay rời bỏ vùng trời thung lũng sông Hông để bay ngược lên
vùng núi, tới vùng trời Nghĩa Lộ và Sơn La.
Ngồi ở chiếc ghế sau tướng Bodet, tướng Gilles vẫn không động
đậy. Ông cũng không cần theo dõi trên bản đồ. Vùng thượng du là
khu vực ông đã biết rất rõ để có thể nói thẳng thừng là đã “chạy thục
mạng” hàng tháng trời suốt chiến dịch Thu Đông năm trước.
Đúng một năm trước đây, tướng Jeans Gilles hồi đó mới là một đại
tá, cuối tháng 11 năm 1952 đang đón đợi cuộc tiến công của các sư
đoàn thiện chiến Việt Minh tại một thung lũng nhỏ trong xứ Thái,
nằm giữa vùng núi Nghĩa Lộ và Sơn La, một tập đoàn cứ điểm xây
dựng vội vã nhằm ngăn chặn làn sóng tiến công của Việt Minh đang
tràn khắp vùng thượng du, quét sạch những đồn bốt nhỏ bé trong
những thung lũng và trên đỉnh núi. Cứ điểm “con nhím” này đặt ở Nà
Sản, một địa danh nổi bật trên trang nhất báo chí khi tướng Giáp bất
ngờ nổ súng tiến đánh vào ngày 28 tháng 11 năm 1952. Sau 6 ngày
giao tranh quyết liệt, giành đi giật lại từng vị trí, có lúc tưởng chừng
như Nà Sản sẽ sụp đổ tới nơi; nhưng cuối cùng các đơn vị lính lê
dương và lính dù đóng giữ tập đoàn cứ điểm này vẫn giữ vững, bộ
đội Việt Minh phải rút lui.
Chiến công này đã nâng Jeans Gilles từ đại tá lên thiếu tướng. Hơn
nữa, chiến công này còn neo chặt trong đầu óc một sĩ quan tham
mưu niềm tin vững chắc là những cứ điểm phòng ngự kiểu “con
nhím” ở vùng thượng du là giải pháp lỳ diệu để nhử mồi và đánh
thắng lực lượng chủ lực tiến công của Việt Minh chưa có đủ trang bị
cần thiết để đánh chiếm những vị trí như thế này. Đặc biệt, đó là
quan điểm của đại tá Berteil, người thay Gilles làm Tư lệnh binh
đoàn tác chiến khu vực miền Trung sông Đà, gọi tắt là GORMON.
Ngày 21 – 5 -1953, khi Tổng tư lệnh Navarre bất ngờ đặt chân
xuống Nà Sản trong cuộc hành trình thị sát vùng thượng du, đại tá
Berteil đã nồng nhiệt bộc lộ ý kiến trên đây với cấp trên.
Nhưng riêng về phần mình , tướng Gilles lại có quan điểm khác. Là
một người ưa hành động, tướng Gilles không thể chịu được cảnh
giam chân trong một cứ điểm kiểu “con nhím”, bị vây bọc mọi phía,
hoàn toàn phụ thuộc vào việc tiếp tế bằng máy bay, chờ đợi địch
tiến đánh. Ông muốn được có những cuộc hành quân táo bạo, trong
đó được tự do vận động , nhử địch vào những cạm bẫy để rồi
nghiền nát bằng quả đấm của lính dù.
Đó là phần cuối trong ý niệm về cuộc hành quân chiếm lĩnh Điện
Biên Phủ ngày hôm đó. Nếu ông nhận cầm đầu lính dù của mình
nhảy xuống tiến đánh Điện Biên Phủ, đó là do ông nhận được lời
hứa chính thức chỉ ở lại đây một thời gian ngắn, vừa đủ để tìm được
người thay thế. Một cơn đau tim gần đây nhất đã chứng minh, ông
đang vượt qua giới hạn củ sự dẻo dai về thể lực. Ông bộc lộ với
tướng Dechaux :
- Điện Biên Phủ không thể trở thành một Nà Sản thứ hai như tất cả
những đầu óc trong ban tham mưu ở Sài Gòn nghĩ như vậy. Bởi vì,
Việt Minh hẳn cũng đã rút kinh nghiệm về những bài học thất bại ở
Nà Sản năm ngoái. Hoặc là, tướng Giáp sẽ áp dụng các biện pháp
cần thiết nhằm ngăn cản không cho Điện Biên Phủ trở thành mối uy
hiếp hậu phương Việt Minh, hoặc là sẽ tiến đánh Điện Biên Phủ …
Tướng Gilles không nói thêm, nhưng vẫn khiến cho người nghe có
cảm giác ông không muốn bị chôn chân bó tay tại Điện Biên Phủ
nếu Việt Minh tiến công.
Tuy nhiên, ông cũng cho biết, sau khi rút bỏ Nà Sản hồi tháng 8 vừa
rồi, thì hiện nay Điện Biên Phủ là một căn cứ ít tồi nhất ở vùng
thượng du. Trong mọi trường hợp, Điện Biên Phủ vẫn còn tốt hơn
Lai Chua là điểm tựa duy nhất còn tồn tại trong vùng, mà mọi người
vẫn thường đánh giá là “một chiếc bô đi tiểu”.
Tướng Bodet nhìn ra phía ngoài máy bat, nhăn mặt khi thấy những
đám mây mỗi lúc một nhiều. Nếu vòm trời bị phủ kín mây, hoặc nếu
có mưa, thì không thể nhảy dù xuống Điện Biên Phủ.
Tướng Dechaux liếc nhìn đồng hồ đeo tay : 5 giờ 40 phút. Ông nói :
- Chậm nhất là một giờ nữa, ta sẽ về tới nơi.
Phía dưới máy bay, trời vẫn một màu mây trắng. Chỉ có một vài đỉnh
núi như người vừa chợt tỉnh ngủ, nhô đầu ra khỏi lớp chăn bông của
mây. Dù sao mặt trời đã hiện ra ở phía Đông, đang nhuộm những
đám mấy tích điện to lớn một mày hồng thẫm.
Hoa tiêu nói qua loa phóng thanh :
- Chúng ta đang bay trên vùng trời Tuần Giáo.
Khoảnh khắc thực tế đang tới gần. Điện Biên Phủ chỉ còn cách 80
kilômét về phía Tây. Hai mươi phút nữa. Tướng Gilles cúi đầu xuống,
trề môi suy nghĩ. Cùng với mặt trời mọc, có vẻ như cảnh “mưa phùn
khô” cũng xuất hiện cho bầu trời nhuốm một màu xanh lơ nhạt dịu.
Bây giờ, những tia nắng đầu tiên của mặt trời đã làm màu xanh lơ
trong trẻo chuyển thành màu xám bẩn thỉu dày đặc sương mù.
Tướng Bodet và tướng Dechaux đưa mắt nhìn nhau. Suy cho cùng,
chính tướng Bodet trên cương vị Phó tổng tư lệnh là người chịu trách
nhiệm nặng nề bật đèn xanh cho 1500 lính dù của Bigeard và
Bréchignac đang tập trung tại sân bay Bạch Mai và Gia Lâm từ 4 giờ
sáng để chuẩn bị lên đường nhảy xuống Điện Biên Phủ.
Tổng tư lệnh Navarre nói :
- Nếu thật thời tiết tốt mới nhảy.
Tối hôm qua, tướng Bodet cũng nhắc lại câu này với các chỉ huy tiểu
đoàn nhảy dù :
- Nếu thời tiết tốt, sẽ nhảy.
Tướng Bodẻ không thuộc phái tán thành vô điều kiện cuộc hành
quân Castor nhằm chiếm đóng sân bay và toàn bộ thung lũng Điện
Biên Phủ, tổ chức khu vực này thành một căn cứ lục – không quân,
tạo nên một then cổng khóa đường biên giới thông sang Lào, một
con đập ngăn chặn du kích Việt Minh, một bàn đạp xuất phát những
cuộc hành quân tiến đánh vùng hậu phương địch. Bodet là một phi
công. Ông suy nghĩ trên cương vị chuyên môn về vận chuyển và
yểm trợ đường không. Mảnh đất Điện Biên Phủ, cách sân bay Bạch
Mai Hà Nội 300 kilômét, cách sân bay Cát Bi Hải Phòng 400 kilômét,
là một sân bay hạn chế cho việc sử dụng thực tế tiềm năng của lực
lượng không quân hiện có tại Đông Dương của Quân đội viễn chinh
Pháp.
Đã 6 giờ 10 phút.
Chiếc Dakota lượn một vòng rộng trên thung lũng Điện Biên Phủ.
Tướng Bodet lại liếc nhìn đồng hồ. Còn khoảng gần 50 phút nữa
trước khi có thể ra lệnh hoãn cuộc hành quân Castỏ.
Trong khoang lái, những chuyên viên “công ty vận tải đường không”
dán mắt vào khung cửa kính. Họ không nhìn thấy gì ngoài những
đỉnh nhúi cao 1500 mét hiện ra trên hướng Lai Châu. Mấy người này
trao đổi với nhau :
- Nhìn này, sương mù đang dày đặc thêm.
- Có vẻ như những triển vọng của cuộc hành quân Castor đang
giảm dần theo từng giây phút.
Đột nhiên, một vừng sáng maù đỏ chói đang biến mớ bòng bong
màu xám loang lổ thành những làn hơi nước. Mặt trời đã xuất hiện từ
những đám mây. Khung cảnh đang ảm đạm trở thành rực rỡ. Những
dải sương mù bốc lên cao tan trong ánh sáng đang sà xuống thấp.
Trên thung lũng Điện Biên Phủ, sương mù như bị luồng gió nuốt
chửng, đang bị tan, bị xé, bị rách từng mảng để bộc lộ những thảm
xanh tươi của ruộng đồng, những lùm đen sạm của cây cối, những
vệt sáng màu bạc của suối nước và dòng sông Nậm Rốn cuồn cuộn
chảy.
Đã 6 giờ 37 phút.
Phó tổng tư lệnh Bodet thở phào, nhẹ nhõm. Ông lại gần tướng
Gilles chỉ huy trưởng cuộc hành quân :
- Có vẻ như trời hửng, Đúng không ?
Tướng Gilles không trả lời, chỉ gật đầu tỏ vẻ đồng ý. Vầng trán cầu
thủ bóng ném của ông lúc này đang cúi sát khung cửa sổ máy bay,
ông cố phát hiện một vài dấu hiệu nổi bật của địa hình phù hợp với
những tấm ảnh chụp từ trên không mà ông vẫn còn nhớ như in trong
óc. Đối với ông, câu nói vừa qua của tướng Bodet chỉ còn đơn giản
chứa đựng hàm ý : vài giờ nữa, hai tiểu đoàn dù, những lính dù “của
ông” sẽ đương đầu với thực tế gay go của cuộc chiến đấu. Và cuộc
chiến này nhất định sẽ xảy ra. Nhưng thắng lợi là chắc chắn. Tướng
Gilles tin cậy vào hai tiểu đoàn trưởng quân dù của ông là Bigeard
và Bréchignac. Đó là hai sĩ quan chỉ huy hai đơn vị thiện chiến có
hiệu xuất tác chiến như nhau dù phong cách khác nhau.
Tướng Gilles lúc này mới quay đầu về phía tướng Bodet. Tướng
Bodet vẫn đang tiếp tục nhìn đồng hồ. Đã 6 giờ 52 phút. Phó tổng tư
lệnh Bodet nói với tướng Dechaux, tư lệnh lực lượng không quân
chiến thuật miền Bắc Đông Dương :
- Phát lệnh theo quy định ! Chúng ta bắt đầu cuộc hành quân
Castor.
Cuộc hành trình
Số phận cuộc hành quân bắt đầu lúc 7 giờ sáng ngày 20 – 11 –
1953. Nhưng lúc đó, mọi người vẫn chưa biết rõ vận mệnh cuộc
nhảy dù sẽ ra sao. Bất kể tầm quan trọng như thế nào, kế hoạch
mang tên Castor, có nghĩa là con hải ly, vẫn là một kế hoạch tuyệt
mật, được soạn thảo trong phòng làm việc của tướng Navarre là
Tổng tư lệnh, có trách nhiệm quân sự trên toàn bộ lãnh thổ Đông
Dương và kế hoạch này đã đư...
 





